Nhắc tới du lịch Bắc Ninh, người ta không chỉ nhớ tới những làng với các câu ca quan họ mà còn với những thắng cảnh và các di tích cổ xưa thể hiện qua cách ăn nếp ở và loạt công trình di tích mang đậm dấu ấn lịch sử. Đó là những lợi thế để Bắc Ninh trở thành điểm đến lý tưởng cho chuyến đi ngắn ngày vào cuối tuần. Giờ hãy cùng RuudNguyen.com khám phá cẩm nang kinh nghiệm du lịch Bắc Ninh từ A – Z qua bài viết sau đây nhé.
Giới thiệu chung về Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh mới là đơn vị hành chính cấp tỉnh hình thành từ việc hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang, giữ vai trò cửa ngõ công nghiệp – dịch vụ ở vành đai Đông Bắc Thủ đô. Không gian tỉnh trải dài từ vùng trung du – sườn Tây Yên Tử đến đồng bằng sông Hồng, quy tụ cả di sản văn hóa Kinh Bắc lẫn hệ sinh thái rừng núi, tạo nên bản sắc vừa cổ truyền, vừa năng động.
Trung tâm hành chính tỉnh Bắc Ninh chỉ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội chừng 60km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 57km. Đây là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, đây là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa và là nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời. Phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và Hải Phòng, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh.
Hạ tầng của Bắc Ninh (Ảnh sưu tầm)
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như QL1A nối Hà Nội – Bắc Ninh – Lạng Sơn; Đường QL18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài – Bắc Ninh – Quảng Ninh; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh – Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội.
Du lịch Bắc Ninh vào thời gian nào?
Thời điểm lý tưởng để du lịch Bắc Ninh là quanh năm, nhưng đẹp nhất là:
- Tháng 2–4 khi không khí mát, lễ hội dày đặc: Hội Lim ở xã Tiên Du (rằm tháng Giêng), lễ hội Đền Đô tại phường Từ Sơn, lễ hội chùa Phật Tích ở xã Phật Tích và tuyến hành hương Tây Yên Tử qua xã Tây Yên Tử.
- Tháng 5–7 hợp cho trải nghiệm mùa quả chín, đặc biệt vải thiều ở phường Chũ, kết hợp làng nghề gốm Phù Lãng (xã Phù Lãng).
- Tháng 9–11 khí hậu khô ráo, lý tưởng thăm quần thể chùa, làng nghề gỗ Đồng Kỵ (phường Đồng Nguyên) và du lịch văn hóa quan họ.
Phương tiện di chuyển đến Bắc Ninh
Trung tâm tỉnh Bắc Ninh chỉ cách Hà Nội khoảng gần 70km nên sử dụng xe máy hoặc oto cá nhân, ngoài ra đi bus cũng lựa chọn lý tưởng nhất cho chuyến đi này. Nếu các bạn đi bus sẽ có nhiều điểm đến bạn phải đến bằng xe ôm hoặc taxi.
Phương tiện cá nhân
Xe bus
Xe khách
Đường sắt
Hiện có tuyến tàu chạy qua Bắc Ninh là Hà Nội – Đồng Đăng nên nếu muốn các bạn có thể đến Bắc Ninh bằng tàu hỏa và có thể gửi kèm xe máy theo tàu.
Lưu trú ở Bắc Ninh
Bắc Ninh có khá nhiều khách sạn nhà nghỉ tùy theo túi tiền (Ảnh sưu tầm)
Vì các địa điểm du lịch ở Bắc Ninh cách khá xa nhau nên bạn nhớ lên lịch trình và nơi lưu trú trước khi đi để đảm bảo chuyến đi có thể diễn ra một cách suôn sẻ và thuận lợi nhất nha. Theo kinh nghiệm của mình bạn không cần phải nghỉ đêm tại Bắc Ninh bởi với tuyến du lịch này chỉ cần đi trong ngày là đủ. Nhưng nếu bạn có các kế hoạch dài và muốn khám phá nhiều hơn hoặc đi các tỉnh khác thì có thể lựa chọn các nhà nghỉ khách sạn bình dân trong các trung tâm huyện hoặc tại thành phố nhé.
Các địa điểm du lịch ở Bắc Ninh
Các đền, chùa
Đình Bảng
Phối cảnh tòa Tiền đường, đình làng Đình Bảng (Ảnh sưu tầm)
Đình làng Đình Bảng nằm ở phường Từ Sơn và được làm hoàn toàn bằng gỗ lim vẫn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc cách đây trên 300 năm. Từ xa xưa, dân gian xứ Bắc có câu: “Thứ nhất là đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng, vẻ vang đình Diềm”. Ngày nay, đình Đông Khang không còn, đình Diềm trước có năm gian, nay còn ba gian. Chỉ có đình Báng (đình Đình Bảng) còn tương đối nguyên vẹn. Ngôi đình này từng được bình chọn là một trong những đình làng có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến bây giờ.
Đền Đô (đền Lý Bát Đế)
Thủy Đình – Nơi để các chức sắc họp bàn khi xưa (Ảnh sưu tầm)
Đền Đô hay còn gọi là (Đền Lý Bát Đế, Cổ Pháp Điện) được xây dựng vào thế kỷ XI, ngày nay nằm ở phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn. Đền được dựng trên nền đất mà khi xưa vua Lý Công Uẩn đăng quang và trở lại thăm quê hương. Hiện đền đang thờ 8 vị vua nhà Lý, được mệnh danh ngôi đền linh thiêng nhất Bắc Ninh. Hội đền Đô diễn ra vào giữa tháng 3 âm lịch đã thu hút đông đảo du khách thập phương khắp nơi.
Chùa Phật Tích
Chùa Phật Tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu tại Bắc Ninh (Ảnh sưu tầm)
Chùa Phật Tích (hay còn gọi là chùa Vạn Phúc) nằm cách Hà Nội 20km về phía Đông, có vị trí tọa lạc trên núi Lạn Kha thuộc địa phận xã Phật Tích. Đây là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời với kiến trúc mang đậm dấu ấn thời Lý. Chùa Phật Tích Bắc Ninh có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi có kè bằng đá tảng dựng đứng như bức tường dài 58m, cao từ 3–5m, ở khoảng giữa tường là lối đi bằng đá rộng 5m có 80 bậc. Ngoài ra, chùa Phật Tích còn nổi tiếng với một công trình hết sức hoành tráng và hùng vĩ đó là bức tượng Phật A di đà cao 27m nằm trên đỉnh núi.
Chùa Dâu
Đây là ngôi chùa có lịch sử khoảng 2.000 năm tuổi (Ảnh sưu tầm)
Chùa Dâu có vị trí ở phường Trí Quả. Chùa Dâu là ngồi chùa thờ bà Pháp Vân, được nhân dân hóa thành bà chị cả trong bốn chị em trong hệ thống chùa Tứ pháp. Có lẽ cũng chính vì vậy mà chùa còn có tên gọi khác là chùa Cả, Cổ Châu Tự( viên ngọc quý), Diên Ứng Tự, đời Lý còn có tên là Thiền Định Tự. Sở dĩ ngày nay chùa Dâu là tên gọi chính của ngôi chùa là vì xưa kia ngôi chùa nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn trồng dâu nuôi tăm để chăn tơ, dệt lụa. Hàng năm lễ hội chùa Dâu vào ngày 8/4 âm lịch hàng năm đều thu hút hàng chục nghìn người từ khắp nơi về chảy hội.
Chùa Bút Tháp
Toàn cảnh Chùa Bút Tháp, Thuận Thành (Ảnh sưu tầm)
Chùa Bút Tháp thuộc phường Trí Quả, nằm ở bên đê hữu ngạn dòng sông Đuống. Đây là ngôi chùa cổ có tượng Phật Bà Quan nghìn mắt nghìn tay bằng gỗ lớn nhất nước ta. Chùa Bút Tháp, tên chữ là Ninh Phúc tự, một trong những danh lam cổ tự đẹp nhất ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, nơi lưu giữ 4 bảo vật quốc gia vẫn bảo tồn được tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Chùa được xây dựng từ thế kỷ 14 với diện tích khoảng 10.000m2 được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, với các công trình kiến trúc được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm.
Hiện trong chùa còn lưu giữ bốn nhóm bảo vật quốc gia là tượng Phật bà Quan âm nghìn mắt nghìn tay được công nhận năm 2012 và ba pho tượng Tam Thế, tòa Cửu phẩm liên hoa, Hương án cùng được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2020. Lễ hội chùa Bút Tháp được tổ chức vào ngày 23-24/3 âm lịch hàng năm với các hoạt động đậm nét văn hóa truyền thống.
Đền Bà Chúa Kho
Nơi đây được người dân mệnh danh là “kho vàng mã” của cả nước (Ảnh sưu tầm)
Đền thờ Bà Chúa Kho ở làng Cô Mễ, phường Vũ Ninh, là một trong những ngôi Đền thờ thần mẫu luôn được người dân tin là một trong những ngôi chùa xin lộc nổi tiếng nhất của miền Bắc. Hàng ngày, có hàng trăm lượt người trong và ngoài nước tới dâng lễ, cầu lộc, cầu tài, nhưng sầm uất và náo nức nhất là vào tháng 1, 2 Âm lịch hàng năm.
Mọi người tới đây, ngoài việc thành tâm dâng lễ, cầu lộc, cầu tài, còn là dịp gặp nhau, cùng nhau vãn cảnh Đền, thăm các di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của thành phố như: Đình Cô Mễ, Thành cổ Bắc Ninh, Văn Miếu Bắc Ninh
Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm (Ảnh: Nguyễn Xuân Tùng)
Chùa tọa lạc ở phường Tân An, nơi có vị thế cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp với thế đất con quy ẩm thực, được thư tịch và tư liệu cổ ghi nhận là một danh lam cổ tự đứng đầu thiên hạ. Trong tấm bia khắc dựng ngày 04 tháng 09 năm 1606 ghi việc trùng tu Vĩnh Nghiêm có mô tả cảnh quan chùa như sau: “Chùa Vĩnh Nghiêm là một danh lam thắng tích. Trước mặt bên phải thì có Xương Giang, Đức Giang, chẽ nhánh hội vào Lục đầu giang mênh mông uốn khúc đưa con thuyền từ bi cứu vớt chúng sinh.
Giữ một vị trí địa lý tâm linh quan trọng, chính vì vậy mà suốt nhiều thập kỷ qua, nơi đây đã trở thành địa điểm dừng chân lý tưởng cho du khách trước khi vượt sông leo núi về với kinh đô của đất thánh Yên Tử. Dân gian vẫn truyền tụng câu ca:
“Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm
Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.
Chùa được xây dựng từ thế kỷ thứ XI dưới thời Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có tên là chùa Chúc Thánh (Chúc Thánh thiền tự). Theo bia tháp ghi lại, năm Thuận Thiên Nguyên Niên (1010), Vua Lý Thái Tổ cử hai quan trong triều là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạt thiết kế đồ án, lo việc kiến thiết 8 ngôi chùa, trong đó có chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay.
Chùa cổ Bồ Đà
Chùa Bổ Đà thuộc phường Vân Hà, có tên chính xác là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm, Tứ Ân Tự, là một trong những ngôi chùa độc đáo nhất miền đất Kinh Bắc, là Trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Trên diện tích hơn 50.000 m2, quần thể chùa Bổ là tập hợp di tích gồm chùa chính (Tứ Ân Tự) cùng hai đền thờ Đức Thánh Hóa và Thạch Tướng Đại Vương. Khuôn viên gồm ba khu: nội tự, vườn tháp và vườn cây ăn trái. Không nhiều chùa có được một khuôn viên rộng lớn, lại trải dài trên triền đồi như vậy.
Lưng tựa vào núi, góc nhìn xuống làng mạc và ruộng lúa, chùa Bổ là một ngôi chùa đã cổ kính lại tuyệt đẹp. Tôi có cảm giác như cánh rừng kia đang dang tay ôm trọn lấy khuôn viên u tịch của ngôi chùa. Ngày nay, không còn vết tích gì của một cánh rừng hoang vu rùng rợn xưa kia (thế kỷ 9-10), khi nơi này được đặt tên là rừng Trời ơi, vì những tiếng kêu được cho là của những oan hồn bị giết khi kẻ cướp còn hoành hành trong rừng.
Các địa điểm du lịch khác
Đồng Cao
Khoảng hai năm trở lại đây, du khách biết nhiều đến điểm du lịch Đồng Cao, thuộc xã Đại Sơn, qua các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng Cao được mệnh danh là “Mẫu Sơn của Bắc Ninh“, từ lâu là địa điểm cắm trại cuối tuần hấp dẫn của những người yêu thích du lịch bụi. Với vẻ đẹp nguyên sơ, khí hậu mát mẻ bạn có thể tự do và thỏa thích khám phá phong cảnh tuyệt đẹp nơi đây.
Đồng Cao có khí hậu mát mẻ, khá phù hợp cho việc cắm trại (Ảnh sưu tầm)
Đồng Cao chỉ cách Hà Nội khoảng 160km về phía Đông Bắc, có độ cao khoảng 600m (so với mực nước biển). Với địa hình bằng phẳng kiểu thung lũng và biệt lập với khu dân cư, Đồng Cao là điểm đến lý tưởng để cắm trại và tham gia các hoạt động dã ngoại cuối tuần. Ngoài ra, sự mới lạ, mong muốn chinh phục những con đường gập ghềnh, khó đi cũng là lý do để không ít các nhóm trẻ hướng lên Đồng Cao.
Xem thêm: Kinh nghiệm du lịch Đồng Cao
Khu bảo tồn Tây Yên Tử
Yên Tử là dãy núi cao, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Ninh. Đây là dãy núi chính của vòng cung Đông Triều (từ Quảng Ninh qua Hải Phòng – Bắc Ninh và dừng ở bờ tả sông Lục Nam).
Khu bảo tồn Tây Yên Tử (Ảnh sưu tầm)
Cách Hà Nội chừng 150km về phía Đông Bắc thuộc địa phận hai huyện cũ là Sơn Động và Lục Nam, khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử được thành lập từ năm 2002 với diện tích rừng 16.400ha. Đây là một nơi thật đắc địa với nhiều cảnh đẹp hấp dẫn như rừng cấm Khe Rỗ, suối nước Vàng, Đồng Thông…
Nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, rừng cấm Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, có diện tích 7.153ha trong đó diện tích rừng tự nhiên đến 5.092ha. Đây là khu rừng nguyên sinh còn giữ nguyên trạng nét hoang sơ tiêu biểu của cả vùng Đông Bắc Việt Nam, được điểm xuyết bằng hồ nước Vũng Tròn mát lạnh, cây Đa cổ thụ, thác Ba Tầng cùng nhiều dòng suối trong vắt chảy quanh co…
Nơi đây có hệ động, thực vật phong phú gồm 786 loài thực vật và cây lấy gỗ trong đó có 255 loài dược liệu; 226 loài động vật thuộc 81 họ, 24 bộ trong đó có 51 loài thú, 102 loài chim, 40 loài bò sát… Nhiều loài động vật qúy hiếm có tên trong Sách đỏ như Voọc đen, Công đất, Gấu ngựa, Gấu chó, Khỉ mốc, Sơn Dương, Báo, Rùa vàng, Tê tê…; nhiều loài thực vật qúy hiếm như Pơmu, Thông tre, Thông làng, Thích xà là, Trầm hương, Lát lim, Sa nhân, Ba tích…
Khu du lịch sinh thái Đồng Thông
Tọa lạc ở xã Sơn Động, nằm cách Hà Nội chừng 140km, khu du lịch sinh thái Đồng Thông đang là điểm đến hấp dẫn được nhiều người biết đến.
Từ Hà Nội du khách có thể di chuyển về thôn Đủng Đỉnh, xã Lục Sơn, tiếp tục di chuyển thêm gần 20km từ thôn Đủng Đỉnh vào xã Sơn Động để chạm chân đến khu du lịch Đồng Thông.
Khu sinh thái Đồng Thông (Ảnh sưu tầm)
Khi đặt chân đến Đồng Thông – nằm dưới chân non thiêng Yên Tử, bạn sẽ được đắm mình trong không gian bao la, kì vĩ của núi rừng, sự yên bình chốn tâm linh chùa Đồng và tìm hiểu những nét văn hóa của đồng bào dân tộc Dao. Khu du lịch sinh thái Đồng Thông đang là điểm đến hấp dẫn và lý tưởng mà mọi phượt thủ đều muốn di chuyển đến trong những ngày hè oi bức, nóng nực.
Rừng nguyên sinh Khe Rỗ
Nằm trong Khu bảo tồn Tây Yên Tử, cách Hà Nội 120 km về phía Đông bắc, rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc xã An Lạc, một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho vùng Đông bắc Việt Nam. Rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ có diện tích 7.153ha với hệ thống động thực vật phong phú.
Bên trong rừng nguyên sinh Khe Rỗ (Ảnh sưu tầm)
Người dân tộc sống ở vùng này chủ yếu là người Tày, ngoài ra còn có người Dao, người Hoa và người Kinh. Hàng ngày họ vào rừng khai thác các cây thuốc và nguồn dược liệu, chiều về ra suối giặt giũ và tắm táp, cuộc sống luôn giản dị và trôi đi một cách bình lặng.
Khu rừng có 236 loài thực vật, cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý, 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, đặc biệt có 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm. Có nhiều dòng suối nước trong vắt, chảy quanh co uốn khúc qua rừng. Đây là một khu rừng cấm nguyên sinh còn giữ được vẻ hoang sơ rất thích hợp cho du khách tham quan và nghiên cứu.
Làng Thổ Hà
Thổ Hà là tên gọi của một làng nghề nổi tiếng nay thuộc phường Vân Hà. Không giống như bao ngôi làng Việt, trải qua những thăng trầm lịch sử và sự tàn phá của thời gian, làng Thổ Hà vẫn hiện lên với tất cả những nét cổ kính, rêu phong. Kiến trúc và những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của làng có sức hút mãnh liệt với khách du lịch trong và ngoài nước. Trước 1960 làng nổi tiếng về nghề làm gốm, từ 1990 lại đây nổi tiếng về nghề làm bánh đa nem và mỳ gạo.
Thổ Hà nổi tiếng với nghề làm bánh đa (Ảnh sưu tầm)
Thổ Hà ba mặt là sông như một hòn đảo, ra khỏi làng là phải đi đò. Làng có hai bến đò: bến Chùa ở trước cửa đình, bến đò dưới nằm ở xóm Ba. Trước kia đò do người chèo trông rất thơ mộng, nhưng ngày nay đều được gắn máy nên đò chở khách nhanh hơn. Dọc bờ sông của làng là thuyền bè của dân vạn chài sinh sống. Chính bởi nét đặc trưng đó, đến với Thổ Hà ta cảm nhận rõ hơn sự lãng mạn, bồng bềnh như lạc về miền quan họ cổ với khung cảnh trên bến, dưới thuyền cùng làn điệu quan họ mượt mà say đắm lòng người
Làng có một trục đường chính chạy theo bờ Bắc dòng sông Cầu, theo chiều dòng chảy lần lượt là Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3 và Xóm 4. Vuông góc với trục đường chính là các ngõ xóm sâu và hẹp. Được biết đến sớm nhất với nghề gốm nổi tiếng khắp gần xa, Thổ Hà xưa kia vốn là một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt, là cái nôi đầu tiên của nghề gốm sứ.
Đến với Thổ Hà, du khách còn dễ dàng ghé thăm làng Vân – làng nghề nấu rượu nổi tiếng khắp mọi miền đất nước, thăm đền Bà chúa kho và thăm Chùa Bổ Đà – ngôi chùa có nhiều tháp cổ đẹp nhất Việt Nam, tất cả chỉ trong bán kính chừng 6km.
Đình Thổ Hà
Nằm hữu duyên bên dòng sông Cầu thơ mộng, làng Thổ Hà (xã Vân Hà) lưu giữ trong mình những giá trị văn hóa truyền thống vô cùng đặc sắc. Đó là vẻ đẹp cổ kính mang dấu ấn đặc trưng của một làng quê thuần Việt với một quần thể kiến trúc, văn hóa, cảnh quan hết sức độc đáo, trong đó tiêu biểu là công trình kiến trúc cổ đình Thổ Hà.
Đình làng Thổ Hà (Ảnh sưu tầm)
Đình Thổ Hà gắn liền với vị Thành hoàng làng là Thái Thượng Lão Quân. Theo Thần tích của làng, ông là người phương Bắc, sống vào thời An Dương Vương, họ Lý, tên Đam (còn gọi là Lão Đam, Lão Tử). Ông có công giết giặc Xích Tỵ quỷ, có công mở trường, dạy học ở làng. Ông được Vua phong là Thượng đẳng thần và Thành hoàng Thái thượng, cho phép làng Thổ Hà lập miếu phụng thờ. Do vậy dân làng đã tôn ông lên làm Thành hoàng, phù trợ cho cuộc sống của dân làng bình an, hạnh phúc.
Đình Thổ Hà là một trong số ít những ngôi đình có ghi niên đại rõ ràng trên thành phần kiến trúc. Theo các văn bia và trên một số cấu kiện của kiến trúc có ghi thì đình Thổ Hà được khởi dựng vào năm 1685.
Thành cổ Xương Giang
Xương Giang là một thành cổ hiện chỉ còn lại tàn tích tại tỉnh Bắc Ninh, đây là một trong những nơi đã diễn ra trận chiến giữa quân của Lê Lợi và quân Minh.
Thành cổ Xương Giang nằm ở phường Bắc Giang. Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ thứ XV (1407). Thành được xây bằng đất, các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông – Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc – Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dầy, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, mở 4 cửa, cửa chính trông về phía Tây.
Khảo sát thực tế và hồ sơ di tích thì dấu tích ngôi thành cổ xưa nay còn lại không nhiều, tường thành cao hơn mặt ruộng khoảng 3- 4m, chân rộng 25m, mặt rộng từ 16- 20m, 04 góc có 4 pháo đài cao hơn mặt thành 4m nhô hẳn ra ngoài, ngoài thành là hệ thống hào bao bọc.
Khu di tích Suối Mỡ
Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ thuộc xã Nghĩa Phương, cách thành phố Bắc Giang cũ 30 km về phía Đông Bắc với tổng diện tích hơn 1.000 ha. Đây là khu du lịch nằm sâu trong sườn núi trùng điệp thuộc phía Tây Yên Tử được thiên nhiên ban tặng phong cảnh hùng vĩ với những bậc thác tuyệt đẹp và rừng nguyên sinh phong phú, tạo nên quần thể du lịch sinh thái hiếm có. Không chỉ có cảnh thiên nhiên đẹp, Suối Mỡ còn lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của một vùng đất cổ giàu truyền thống văn hóa và yêu nước.
Suối Mỡ (Ảnh sưu tầm)
Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ bao gồm hệ thống các ngôi đền và núi rừng suối thác, trong đó có cả diện tích rừng nguyên sinh và rừng tái sinh. Với yếu tố sinh thái, Khu du lịch các điểm như: thác Suối Mỡ, vọng Ngắm trăng, đỉnh Rông khế, hồ Suối Mỡ, thác Thùm Thùm… Trong đó, thác Suối Mỡ và thác Thùm thùm là 2 điểm du lịch sinh thái đặc biệt hấp dẫn mà du khách không nên bỏ qua.
Đền Suối Mỡ
Đền Suối Mỡ (Ảnh sưu tầm)
Suối Mỡ quanh năm nước chảy rì rào bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng qua năm bậc thác mẹ, thác con nối tiếp. Tương truyền đó chính là dấu năm ngón tay của nàng công chúa Mỵ Nương. Dọc theo con suối thiêng, nhân dân xây dựng một quần thể di tích gồm: Đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Dấu tích cũ cho biết, quần thể di tích có niên đại từ thời Lê – Mạc và đã được tu sửa, tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Đến với lễ hội Suối Mỡ là đến với vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình.
Đền Thượng nằm ở lưng chừng núi Vực Mỡ. Từ đây có thể bao quát cả khu đền Trung, Đền Hạ và một phần thung lũng xã Nghĩa Phương. Đền vốn được tạo ra từ mái đá của sườn núi. Mặt nhìn xuống Suối Mỡ chảy từ thác Thùm Thùm. Từ đây trở xuống Suối Mỡ rộng dần và có nhiều thác lớn nhỏ. Đền Trung ở chân núi Vực Mỡ thuộc hữu ngạn suối này, có không gian rộng rãi thoáng mát. Nước suối trong mát chảy dài xuống Đền Hạ. Đền Hạ quy mô lớn hơn nằm ở giữa thung lũng. Trong ngày hội, đây là nơi tập trung khách thập phương các nơi về lễ đền.
Lễ hội đền Suối Mỡ là ngày hội văn hoá của nhân dân các dân tộc thuộc nhiều làng, xã dưới chân núi thuộc sườn tây Yên Tử. Các làng Dùm, làng Quỷnh thuộc xã Nghĩa Phương từ thượng cổ tới nay, vào ngày hội đều có lễ rước sắc, bài vị và lễ vật về đền Suối Mỡ. Ngoài ra, hội đền còn tổ chức thi bắn cung, võ dân tộc, đấu vật, cờ bỏi, đánh đu, chọi gà… Một nét văn hoá độc đáo và đặc sắc không thể thiếu trong lễ hội Suối Mỡ, gắn với nhân vật thờ chính ở ngôi đền là nghi lễ hầu Thánh trong ngày lễ hội.
Thác Thùm Thùm
Nằm trong quần thể khu du lịch Suối Mỡ, thác Thùm Thùm, còn gọi là thác Chúa, từ đền Trần đến đây mất khoảng 30 phút. Đến nơi đây du khách như được hòa mình vào thiên nhiên, núi rừng suối thác để tận hưởng cảm giác thư thái, thoải mái, dễ chịu rất riêng của Suối Mỡ.
Thác Thùm Thùm (Ảnh sưu tầm)
Hồ Suối Mỡ
Hồ Suối Mỡ được xây dựng trên suối Mỡ thuộc địa phận xã Nghĩa Phương, cách thị trấn Lục Nam cũ khoảng 12,0 km về phía Đông – Đông Nam, phía Bắc giáp đường 293.
Suối Mỡ chảy quanh co trong thung lũng núi Huyền Đinh, Yên Tử – nơi có nhiều thác nước lớn, nhỏ tung bọt trắng xoá và nhiều bồn tắm thiên nhiên. Suối bắt nguồn từ khu vực Đá Vách và Hố Chuối rồi xuôi dòng. Dòng suối lớn dần, chảy len lỏi theo khe núi. Do sự kiến tạo của địa chất tự nhiên, những phiến đá lớn xếp chồng lên nhau theo nhiều dạng, nhiều cấp độ đã làm cho lòng suối thay đổi độ dốc đột xuất tạo ra nhiều thác nước lớn, nhỏ khác nhau.
Suối Mỡ nay còn là là Khu du lịch, thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Bắc Ninh. Núi ngàn thăm thẳm, suối thác hùng vĩ hòa quện vào nhau tạo nên bức tranh thiên nhiên huyền ảo, cây cối tươi xanh, khe suối trong vắt. Cảnh sắc hữu tình cùng sự linh thiêng của ba ngôi đền Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng dọc đôi bờ suối mỗi năm đã thu hút hàng ngàn hàng vạn du khách tới dâng hương và và thưởng ngoạn.
Hồ Khuôn Thần
Khuôn Thần là nơi phù hợp để tổ chức các hoạt động dã ngoại, cắm trại (Ảnh: Chính Trần)
Khuôn Thần là một hồ nước rộng rộng 240 ha, bao quanh bởi những đồi vải, đồi thông bạt ngàn và xanh mướt. Đây là một khu du lịch còn nhiều tiềm năng của xã Kiên Lao.
Để dễ dàng di chuyển đến hồ Khuôn Thần, bạn có thể thuê xe khách hoặc ô tô để di chuyển. Từ thành phố Bắc Giang cũ theo quốc lộ 31 đi khoảng 40 km lên đến trung tâm ngã tư Đài Phát thanh -Truyền hình Lục Ngạn cũ, sau đó rẽ trái 9 km, du khách sẽ tới khu du lịch Khuôn Thần. Cung đường này tương đối bằng phẳng, giao thông thuận lợi nên ít xảy ra nạn kẹt xe.
Khu du lịch Khuôn Thần nằm tại địa phận huyện Lục Ngạn cũ là một trong những điểm du lịch đẹp của Bắc Ninh, hấp dẫn nhiều du khách trong nước và quốc tế. Khu du lịch Khuôn thần gồm 2 điểm nhấn là hồ và rừng Khuôn Thần
Núi Dành
Cách TP Bắc Giang cũ hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Núi Dành không quá cao, chỉ chừng 100m. Giữa dải đồi lô xô bát úp, ngọn núi Dành đột khởi hình dáng tựa quả chuông. Thế núi uốn lượn, uyển chuyển, lại thêm sông Thương và dòng Nhâm Ngao uốn lượn tạo nên phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Quanh núi có 19 di tích đình, đền, chùa, nghè, miếu… Trên núi hiện diện ngôi đền hàng trăm tuổi.
Bản Đá Húc
Bản Đá Húc nằm cách trung tâm xã Lục Sơn khoảng 13km. Từ con đường liên xã chạy qua bản nhìn lên giữa những gò đồi nhấp nhô cây cỏ dại lại nổi bật lên một màu xanh của đại ngàn. Đó là khu rừng nguyên sinh, hay còn gọi là rừng lim xanh bản Đá Húc. Cạnh bìa rừng, một ngồi đình cổ kính, trầm mặc nhìn ra khu định cư của đồng bào Cao Lan.
Thác nước Hang Chiêng – Khe Nương Dâu
Trong vẻ đẹp chung của khu rừng này, phải nhắc tới nét chấm phá của chiếc thác nước trong muốt. Nước suối chảy liên tiếp ko ngớt, với các nơi nước chảy xiết đổ vào những bồn tắm thiên tạo, lại có chỗ cái chảy rất dịu êm và mềm mại. Để chinh phục suối, du khách phải mất 4 đến 5 giờ đồng hồ, được leo núi xuyên rừng, ngâm mình trong mẫu suối mát, ngắm nhìn cảnh sắc ngẫu nhiên hoang vu miền sơn cước, hoặc thử sức vượt qua những tảng đá với hình hài kỳ thú sẽ mang lại cho du khách ấn tượng đẹp và khó quên. Một cảm giác thật thoả thích, dễ chịu, đôi lúc lại nhồn nhột khi đi giữa chốn đại ngàn của núi rừng bao la.
Hồ Cấm Sơn
Dòng Cấm Sơn xuất phát từ tỉnh Lạng Sơn, đến Lục Ngạn thì bị chặn lại thành hồ. Hồ Cấm Sơn là nguồn cung cấp nguồn nước tưới chính cho sản xuất nông nghiệp của hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Ninh.
Hồ Cấm Sơn có tổng diện tích mặt nước hơn 2,6 nghìn ha với rất nhiều hòn đảo. Lòng hồ trải rộng, giáp ranh với nhiều xã trong và ngoài tỉnh.
Hồ Cấm Sơn (Ảnh sưu tầm)
Đặc biệt, hồ được bao quanh bởi những ngọn núi trùng điệp, rợp bóng cây xanh. Cư dân sống gần hồ là đồng bào dân tộc Nùng, Tày. Nơi đây phương tiện giao thông chủ yếu là thuyền máy.
Lăng Dinh Hương
Lăng Dinh Hương (Ảnh sưu tầm)
Lăng Dinh Dương, thuộc làng Dinh Hương, xã Hiệp Hòa là một quần thể kiến trúc điêu khắc đá hoành tráng, độc đáo thời Hậu Lê, được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1965.
Khu thờ tự gồm sân thờ có đôi voi chầu, các bàn bệ đăng đối, bậc tam cấp đá ong rộng dẫn lên phần ban thờ cũng xây vuông vức như phần mộ táng. Phần cao nhất là ngai thờ và hương án đều chạm khắc từ đá nguyên khối, đường nét hoa văn giản dị, tạo cảm giác bề thế, trang trọng.
Chiếm một vị trí khá lớn trong quần thể lăng Dinh Hương là phần bia, trải qua thời gian, những chữ chạm khắc trên bia đến nay vẫn còn khá rõ nét. Đến lăng đá Dinh Hương, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp độc đáo của quần thể di tích này.
Làng gốm Phù Lãng
Làng gốm Phù Lãng là một trong những làng gốm truyền thống nổi tiếng (Ảnh sưu tầm)
Làng gốm Phù Lãng là một trong những làng gốm truyền thống nổi tiếng trong cả nước nằm xã Phù Lãng cách Hà Nội khoảng 60km. Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, vẫn còn lưu giữ và trưng bày một số sản phẩm gốm Phù Lãng có niên đại khoảng thế kỷ 17-19.
Làng gốm Phù Lãng ra đời cách đây hơn 700 năm, nổi tiếng với các sản phẩm đồ gia dụng như vại, ấm, nồi, chum, chậu hoa, đôn cảnh… Khác với những làng gốm khác, sản phẩm gốm Phù Lãng được phủ một lớp men có hoa văn màu da lươn trông vừa thanh nhã vừa bền đẹp.
Làng Tranh Đông Hồ
Đây là một dòng tranh dân gian Việt Nam (Ảnh sưu tầm)
Cách Hà Nội chừng 33km về hướng Đông và nằm sát bờ Nam đê sông Đuống, làng Hồ hay Đông Hồ là một làng nghề cổ truyền, có tên Nôm là làng Mái nay thuộc phường Thuận Thành. Đây là cái nôi của dòng tranh khắc gỗ dân gian đặc sắc được nhiều người cả trong và ngoài nước biết đến, với những bức tranh từ lâu đã đi vào đời sống tinh thần bao người dân Việt.
Xuất hiện từ khoảng thế kỷ XVI, tranh Đông Hồ được hình thành bằng phương pháp thủ công, là kết tinh của sự khéo léo và nhẫn nại, cộng với nghệ thuật thẩm mỹ đầy tinh tế. Đặc biệt làng Hồ có hội vào rằm tháng Ba âm lịch, trong ngày hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ… Trong lúc tham quan, bạn có thể mua vài bức tranh về làm quà cho người thân, bạn bè vì có nhiều chủ đề ý nghĩa để bạn lựa chọn lắm đấy!
Hội Lim huyện Tiên Du
Hội Lim là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh (Ảnh sưu tầm)
Lim là tên Nôm của thôn Lũng Giang, huyện Tiên Sơn cũ cách Hà Nội 18 km. Hội Lim là một lễ hội lớn đầu xuân vùng Kinh Bắc được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng hàng năm, đây là một trong những lễ hội tiêu biểu nhất của mảnh đất Kinh Bắc. Có nhiều trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt cửi, nấu cơm và đặc sắc hơn cả là phần hát hội. Những làn điệu dân ca quan họ từ lâu đã là tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ.
Các món ngon ở Bắc Ninh
Bánh phu thê Đình Bảng
Bánh mang ý nghĩa tượng trưng cho sự thủy chung của vợ chồng (Ảnh sưu tầm)
Bánh phu thê hay còn gọi với cái tên khác là bánh xu thê. Loại bánh này thường được dùng để làm lễ vật đựng tráp trong ngày ăn hỏi. Ở một số nơi, bánh phu thê còn được dùng làm món tráng miệng trong các buổi tiệc cưới. Chiếc bánh được gói bằng những tấm lá dong giản dị khi thưởng thức vừa có độ dẻo của nếp, độ giòn giòn của đu đủ, vị ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường,…
Bánh tẻ làng Chờ
Nét đặc trưng của bánh tẻ Chờ là dẻo chứ không nhão, nát như bánh giò (Ảnh sưu tầm)
Bánh tẻ một thứ quà quê nổi tiếng của xã Yên Phong. Bánh tẻ có mùi vị tuyệt hảo nhất là lúc vừa ra lò, còn nóng hổi với vị bùi bùi đặc trưng. Để làm ra những chiếc bánh đúng nghĩa bánh tẻ làng Chờ, phải trải qua một quy trình phức tạp, tỉ mỉ. Bánh khi ăn chấm cùng tương ớt hoặc nước mắm ớt tùy theo sở thích của mỗi người.
Nem làng Bùi
Nem bùi là một đặc sản Bắc Ninh đã và đang tạo nên thương hiệu rất lớn (Ảnh sưu tầm)
Nem Bùi có xuất xứ ở làng Bùi, phường Ninh Xá. Bởi thế người ta thường gọi là nem Bùi Thuận Thành để phân biệt với các loại nem xứ khác. Tùy theo khẩu vị từng người, nem khi ăn được cuốn bằng lá sung hoặc lá đinh lăng chấm với tương ớt hay nước mắm. Bạn sẽ cảm nhận được vị chát của lá sung, vị ngọt của thịt và mùi thơm lừng của thính. Đồng thời đây cũng là món quà trao tay ý nghĩa cho du khách bè, người thân sau mỗi dịp ghé qua Bắc Ninh.
Bánh khúc làng Diềm
Tên bánh xuất phát từ chính loại cây làm nên nó (Ảnh sưu tầm)
Làng Diềm (hay còn gọi là làng Viêm Xá), thuộc phường Kinh Bắc nổi tiếng là cái nôi của làn điệu dân ca quan họ. Thế nhưng đến đây, du khách còn được biết đến bánh khúc cổ. Sở dĩ có tên bánh khúc là vì nguyên liệu chính để làm bánh là rau khúc. Nhân bánh khúc có hai loại, nhân đỗ và nhân thịt, tùy thuộc vào khẩu vị người ăn mà mỗi người làm khác nhau. Bánh sau khi nặn xong đem hấp khoảng 30 phút sẽ chín. Thưởng thức bánh khi còn nóng hổi là thơm ngon nhất.
Bánh đa kế
Nguyên liệu chính làm bánh đa Kế là gạo tẻ loại ngon, để lâu ngày, được vo nhẹ (Ảnh sưu tầm)
Bánh đa kế không chỉ là món đặc sản Bắc Ninh được thực khách ưa chuộng mà cũng thường được chọn mua làm quà cho gia đình bạn bè. Bánh đa kế nơi này được chế biến theo cách rất riêng mà các loại bánh đa vừng đen Hà Tĩnh hay bánh đa cốt dừa Bình Định không có được.
Loại bánh này được tráng gần như bánh cuốn với cách tráng 2 lần để bánh đảm bảo được độ dày, giòn sau khi nướng, bánh sau khi đã được đổ tạo hình sẽ được rắc thêm lớp mè và lạc rang giã dập lên mặt bánh để khi ăn bánh có vị bùi, ngọt thanh thoát. Bánh đa kế thường được du khách mua về làm quà cho gia đình bạn bè bởi giá thành của nó hợp lí mà chất lượng thì càng không cần bàn cãi.
Bún làng Tiền
Nghề làm bún ở làng Tiền (Ném) có hàng trăm năm nay (Ảnh sưu tầm)
Nghề làm bún ở làng Tiền (Ném) có hàng trăm năm nay, đời này kế tiếp đời kia. Để thương hiệu sản phẩm, người Ném Tiền đã kỳ công chọn gạo không dính, không hẩm và không hề pha chế bất kỳ loại bột nào. Những sợi bún trắng trong, tươi ngon và dẻo dai được người dân làng Tiền thực hiện qua biết bao công đoạn phức tạp, tỉ mỉ và công phu.
Cháo cá Tích Nghi
Cháo được nấu đặc sánh, nhừ nhưng không nát, quyện đều thịt cá béo thơm (Ảnh sưu tầm)
Nói đến cháo cá Tích Nghi ít ai không biết đây là món ăn đặc sản nổi tiếng và quen thuộc của người dân Bắc Ninh. Bên dưới cháo thường được cho vào một ít rau thơm, nhiệt độ của cháo vừa đủ làm cho rau chín tới mà không quá mềm nhũng. Cháo cá nơi đây được nấu từ thịt cá chép hoặc cá trắm, cá đặc biệt dai ngon và ngọt thịt. Đặc biệt là cháo cá Bắc Ninh có thêm cả bát mắm ớt. Khi ăn có thể cho thêm vào để tăng vị cay nồng, giảm bớt cái lạnh mùa đông.
Phở gan cháy
Phở ngan cháy là đặc sản độc đáo chỉ có duy nhất ở đất Kinh Bắc (Ảnh sưu tầm)
Phở ngan cháy là đặc sản độc đáo chỉ có duy nhất ở đất Kinh Bắc. Phở gan cháy là một món đặc sắc mới xuất hiện gần đây ở phường Vũ Ninh, ăn rất lạ và ngon. Nguyên liệu làm nên món phở này khá khác biệt so với các món phở khác. Bên cạnh thịt lợn là nguyên liệu phổ biến thì cật lợn và gan lợn (bò) là những thứ rất quan trọng để tạo nên điểm nhấn của món đặc sản phở gan cháy. Nếu bạn có dip ghé qua thành phố Bắc Ninh cũ thì đừng quên ghé qua các địa chỉ bán món đặc sản này trên đường Kinh Dương Vương, Hồ Ngọc Lân.
Thịt chuột Đình Bảng
Người Đình Bảng thường dùng chó hoặc rơm hun khói để bắt chuột (Ảnh sưu tầm)
Nói đến thịt chuột, nhiều người sẽ có cảm giác ghê sợ, nhưng ở Đình Bảng đây lại được coi là đặc sản. Tuy không phổ biến như thịt chó, gà hay bò nhưng người dân Bắc Ninh vẫn sử dụng thịt chuột như một loại thức ăn thường ngày. Thậm chí không ít nhà còn bày trong mâm cỗ cưới món đặc sản này. Ngày nay thịt chuột ở Đình Bảng tuy không còn thịnh như ngày trước khi có mặt ở nhiều nơi, nhưng những người sành ăn Hà Nội vẫn thường tìm về Đình Bảng để thưởng thức món ăn dân dã.
Gà Hồ
Gà Hồ là giống gà đẹp mã, thịt ngon, chắc ngọt (Ảnh sưu tầm)
Gà Hồ là giống gà quý hiếm từ xưa dùng để tiến vua. Cứ vào mỗi dịp Tết đến xuân về, thị trường gà tết luôn trong tình trạng tấp nập mua bán. Từ lâu, gà Hồ đã được mệnh danh là “gà tiến vua” là “đặc sản trứ danh” của làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ cũ. Giống gà Hồ trưởng thành có trọng lượng khoảng 5 – 6kg, chất thịt thơm ngon hơn hẳn các loại gà thông thường, phần da gà cũng giòn, ít mỡ hơn.
Vải thiều Lục Ngạn
Vải thiều Lục Ngạn vốn có nguồn gốc từ Thanh Hà (Hải Dương cũ), nhưng từ khi bén duyên với đất đồi Lục Ngạn – một mảnh đất có tiểu vùng khí hậu đặc trưng riêng và được người dân nơi đây chăm sóc, vun trồng với những quy trình kỹ thuật đầy sáng tạo nên quả vải thiều đã có bước tiến mới về chất “như ngọc được mài”. Điều đó đã tạo nên thương hiệu vải thiều Lục Ngạn – một sản phẩm đặc sản có những hương vị thơm ngon riêng biệt mà không nơi nào có được.
Vải thiều là một trong các đặc sản nổi tiếng của Bắc Ninh (Ảnh: BGTV)
Bánh đa Thổ Hà
Bánh đa Thổ Hà có 2 loại: bánh đa vừng và bánh đa dừa, mà đặc sản là loại bánh đa dừa ngọt cao cấp. Để làm bánh đa dừa rất công phu, ngay từ việc chọn nguyên liệu. Đầu tiên, gạo làm bánh đa dừa phải là loại gạo ngon, vừng trắng được đãi kỹ, không sạn. Lạc chọn loại già, nhân to, mẩy, dừa già, cùi dày, và sau cùng là đường kính hoặc đường phên.
Những chiếc bánh đa Thổ Hà (Ảnh sưu tầm)
Trước tiên, người ta ngâm gạo 1-2 tiếng để ráo nước, sau đó đổ vào cối xay, vừa xay vừa đổ nước, để nước có độ vừa phải không loãng mà cũng không đặc quá. Sau đó lọc bột bằng vải. Trước khi tráng, người ta đun chảy đường hòa với bột cho đều. Các nguyên liệu khác được sơ chế như sau: Vừng đem ngâm, xát vỏ; Lạc nhân thái thật mỏng sau đó xẩy sạch vỏ; Dừa nạo sợi dài, mỏng. Cuối cùng là công đoạn tráng bánh.
Người làm bánh đa ở đây không phải đem bán mà đều có người đến lấy tận nhà. Bánh đa Thổ Hà đã theo chân thương lái đến nhiều tỉnh thành như Hà Nội, Quảng Ninh… như một món quà của ngôi làng ven sông Cầu thơ mộng.
Nham Vân Xuyên
Nguyên liệu chính để làm Nham gồm: Trám đen nấu bỏ hạt lấy cùi; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; thịt cá sông (đánh bắt từ sông Cầu) nướng. Ba thứ đó theo tỉ lệ 1:1:1, đem trộn với gia vị như lạc rang, quả núc nác nướng, rau thơm, khế chua, nêm mắm muối vừa đủ. Cách làm như sau: Trám đen (đã om chín và ngâm trong nước muối loãng) dã nhỏ; thịt ba chỉ áp chảo thái chỉ; cá nướng gỡ xương lấy thịt, rau mùi gai, húng quế, tía tô, khế chua thái nhỏ, đặc biệt không thể thiếu lá gừng tươi và lá hẹ thái nhỏ, tất cả trộn đều và rắc thêm vừng hoặc lạc rang giã rối… khi ăn dùng bánh đa nem cuốn ngoài.
Món ăn nham cá của người Hiệp Hòa (Ảnh sưu tầm)
Thưởng thức đặc sản này, thực khách sẽ cảm nhận được vị bùi, béo của trám đen; ngọt đậm của cá và hương thơm của các loại gia vị rau thơm, vừng, lạc… tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên hương vị đặc trưng rất lạ, khó quên.
Gỏi cá mè Hiệp Hòa
Khi ăn, món thịt, xương cá đã thấm khô dùng thính gạo rang hoặc bánh đa quê giã nhỏ như bột xay, riềng giã mục trộn vào cá cho thơm mới bày ra đĩa khi ăn dùng lá mơ to hoặc lá sung để gói. Cá được đặt vào lá, xúc một ít hạt (1 cùi rìa con) muối ớt, tỏi vừa vặn và các loại lá khác, tùy mỗi miếng và sở thích của mỗi người mà dùng loại lá để cùng ăn với gỏi.
Gỏi cá mè (Ảnh sưu tầm)
Miếng gỏi như vậy thì chỉ thấy mùi thơm, không hề thấy có mùi tanh mặc dù là cá Mè ranh. Tất cả các loại lá, hạt, gia vị làm cho gỏi cá có mùi vị đặc trưng, chỉ có ăn mới cảm nhận hết cái mùi vị thơm ngon, bùi…rất thanh tao của món gỏi cá.
Chè đỗ đãi Mỹ Độ (Chè kho)
Chè đỗ đãi Mỹ Độ có màu vàng hơi sậm – màu của đỗ với những hạt vừng tấm trắng rang thơm được rắc lên mặt đĩa chè như là vì sao sa. Hương đậu xanh, hương vừng, vị ngọt thanh của đường kính, vị béo thoang thoảng của mỡ, chất đậm đà của đậu xanh hòa quyện vào nhau. Ăn một miếng chè đỗ đãi ta thấy cái cảm giác thật khó tả: vị ngòn ngọt tan từ từ trong miệng.
Món chè kho Mỹ Độ (Ảnh sưu tầm)
Chè kho Mỹ Độ tuy dân dã nhưng ai đã một lần được thưởng thức đều khó quên bởi hương vị đậm đà, thanh mát. Chè có màu vàng óng – màu của đỗ với những hạt vừng tấm trắng rang thơm được rắc lên mặt đĩa. Hương đậu xanh, hạt vừng, vị ngọt thanh của đường kính, chất đậm đà của đậu xanh hòa quyện vào nhau đã tạo nên sự đặc trưng cho món ăn.
Bánh coóc mò
Bánh coóc mò thường được dân tộc Tày, nhất là ở xã vùng cao Sơn Động ưa thích trong ngày Tết Nguyên đán. Xưa, bánh được gọi là bánh sừng bò, vì có các góc nhọn trông giống sừng của con bò; nay gọi chệch là bánh coóc mò.
Bánh coóc mò (Ảnh sưu tầm)
Bánh coóc mò dân dã, nhưng ẩn sau đó là biểu trưng sức mạnh của tình đoàn kết, luôn sát cánh bên nhau, là ước nguyện về một năm mới bội thu, sung túc của đồng bào dân tộc vùng cao.
Bánh gio Hiệp Hòa
Cơm đồng Chóa, cá đồng Ưa, cua đồng Chùn… những câu phương ngôn, cùng những câu ca, ngạn ngữ: “Hành Nga Trại, cải Tiếu Mai – Lý Viên gỏi cá, bánh đa kẻ xà”; “Rền gai vỏ quýt, vỏ bòng – dành dành, núc nác đốt làm bánh gio”… truyền mãi trong dân gian, ghi vào sử sách nói về đặc sản quê tôi, những món ăn dân dã mà bất cứ ai đã thưởng thức một lần là nhớ mãi.
Lá gói bánh gio thường là lá dong, lá tươi sẽ nhanh chuyển màu và có mùi nếu để lâu, nên người ta dùng lá dong phơi khô, khi gói ngâm nước cho mềm, mỗi lá gói một bánh dài khoảng 20 phân, to hơn ngón chân cái. Luộc bánh bằng củi là tốt nhất, khi luộc nồi bánh phải ngập nước, nếu nước cạn lại đổ them nước, đun sôi khoản 20 phút bắc ra khỏi bếp ngâm đến khi nước nguội thì vớt bánh.
Bánh gio Hiệp Hòa (Ảnh: Trithuchay.com)
Để bánh có màu đẹp, khi luộc cho ít măng khô hay quả dành dành thì bánh sẽ trong và màu vàng óng. Bánh gio vừa mềm, vừa dẻo, gấp như gấp lạt mà không gãy, cầm một đầu lẳng đi lẳng lại cứ dẻo quẹo, nên dân gian còn gọi bánh gio là bánh “lẳng”. Ngày tết, ngày hội, đám cưới,… ăn nhiều thứ dễ sinh trướng bụng, đầy hơi, món bánh gio ăn mát, lành sẽ làm ta dễ chịu, nhuận tràng, tiêu hóa tốt. Vì thế bánh gio vừa là món ăn ngon, vừa là vị thuốc nam, món ẩm thực đặc sản của cùng quê luôn được mọi người ưa chuộng cùng với mật mía mật ong.
Cua Da
Huyện Yên Dũng cũ có đặc sản nức tiếng khiến ai một lần thưởng thức sẽ nhớ mãi, đó là cua Da. Theo lý giải của người dân Yên Dũng, sở dĩ gọi là cua Da vì chúng có lớp da trên càng, cũng có người gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng Chín cua ra, tháng Ba cua vào”, song cua Da vẫn được gọi phổ biến hơn cả. Loại cua này sống chủ yếu trong các ghềnh đá dọc sông Thương và một phần sông Cầu chảy qua địa phận xã: Đồng Việt.
Cua Da Yên Dũng (Ảnh sưu tầm)
Để “săn” được cua Da, những cư dân miền sông nước phải lao động vất vả, nhọc nhằn, đặc biệt phải hiểu đặc tính, môi trường sống của chúng. Về đây những ngày này, trong tiết trời cuối thu se lạnh, du khách không những được thỏa sức tham quan, vãn cảnh những danh lam nổi tiếng trên đất Phượng Hoàng mà còn được thưởng thức món cua Da vô cùng hấp dẫn.
Mỳ Chũ
Hiện tại ở Bắc Ninh có rất nhiều nơi sản xuất mỳ gạo nhưng riêng Mỳ Chũ của Lục Ngạn lại có chỗ đứng riêng trong lòng người tiêu dùng khắp trong và ngoài nước. Mỳ Chũ ở Bắc Ninh nổi tiếng nhờ sợi mỳ dai, mềm lại không nát. Khi hòa quyện vào nước dùng mỳ Chũ trở nên bóng với màu trăng đục đặc trưng cùng vị dai dai ngọt bùi của gạo ngon.
Mỳ gạo Chũ (Ảnh sưu tầm)
Mỳ Chũ ngon nổi tiếng nhờ được làm từ thứ gạo đồi của vùng Chũ có tên là gạo bao thai hồng. Gạo được trồng ở vùng núi nên có vị đậm đà, dẻo dai vượt xa các loại gạo khác ở đồng bằng.
Mỳ Chũ có thể chế biến tùy theo sở thích của người ăn, rất thích hợp cho những người sành ăn lẩu, mỳ xào bò hay bát mỳ thịt lợn,… và tặng bạn bè, người thân. Hơn nữa, mỳ Chũ hoàn toàn không dùng các chất bảo quản, chất phụ gia an toàn với sức khỏe con người
Rượu Làng Vân
Làng Vân (hay gọi đủ là Vạn Vân) có tên chữ là Yên Viên, nằm ở phía Bắc của xã Vân Hà. Làng nằm dọc tả ngạn sông Cầu, trải dài hơn 1km, đối diện với làng Đại Lâm ở bên kia sông. Mặc dù là vùng quê yên bình mang nhiều nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ nhưng Vân Hà có nét rất riêng, đó là người dân không có ruộng.
Rượu làng Vân (Ảnh: poliva.vn)
Làng Vân và rượu làng Vân có tự bao giờ, khó mà có câu trả lời chính xác, bởi thần phả, tộc phả đã bị chiến tranh tàn phá và tiêu hủy cả. Chỉ biết rằng, dân làng Vân xưa nay vẫn thờ bà “Tổ nghiệp” là bà Nghi Định. Bà mang nghề nấu rượu từ Trung Hoa về truyền dạy lại cho dân làng Vạn Vân, làm nên danh tiếng rượu làng Vân.
Kể từ đó trong làng cũng hình thành cái lệ là cứ mùng 4 Tết Nguyên Đán, mỗi nhà phải cử một người ra chùa Rộc uống máu ăn thề, nguyền phải giữ bí quyết nghề tổ, không được truyền cho người ngoài làng, kể cả con gái.
Bánh vắt vai
Bánh vắt vai được làm từ gạo nếp cái hoa vàng nổi tiếng, có vị thơm ngon, ngọt bùi là món ăn dân dã của người Cao Lan ở Bắc Ninh. Không phải gạo nếp nào cũng làm được bánh ngon mà phải là nếp Phì Điền nổi tiếng ở huyện Lục Ngạn cũ. Nhờ chất đất và khí hậu đặc trưng, nếp cái hoa vàng Phì Điền có vị dẻo, hương thơm.
Bánh vắt vai (Ảnh: thegioiamthuc.com)
Bánh vắt vai có vị của đậu xanh, vị ngọt của đường, bùi của gạo nếp và chút hương ngai ngái của ngải cứu khiến món bánh trở nên đậm đà, quyến rũ. Đến Lục Ngạn vào mùa tháng 3 âm lịch hay dịp gần Tết, bạn sẽ dễ dàng tìm mua bánh trong các chợ quê hoặc được người Cao Lan mời ăn trong mỗi dịp lễ hội.
Bánh hút Lục Ngạn
Bánh Hút cũng dân dã và giản dị như chính cái tên của nó. Bánh được làm từ những nguyên liệu của miền quê như rau cải cay, gạo nếp, mật mía. Rau cải cay rửa sạch giã nhỏ lấy nước rồi đem nhào với gạo nếp sau đó thả vào chảo dầu chiên. Xong công đoạn chiên thì người làm bánh vớt ra và bỏ ngay vào nồi mật mía, viên bánh hút mật mía căng tròn lên nhìn rất đẹp mắt.
Bánh Hút Lục Ngạn (Ảnh sưu tầm)
Thường người dân Lục Ngạn chỉ làm bánh vào những ngày Tết để tiếp khách và tặng biếu người thân. Và nếu hiểu được ý nghĩa của loại bánh này chúng ta sẽ càng cảm nhận được hương vị thơm ngon của nó bởi bánh như một niềm tin bao bọc che chở của vỏ, tuy mỏng nhưng không bao giờ để mật chảy ra ngoài.
Bánh đúc Đồng Quan
Là một loại bánh được làm từ bột gạo và lạc, bánh đúc có mặt hầu hết ở các làng quê Việt Nam, tuy nhiên hương vị mỗi vùng đều khác nhau và để trở thành một thứ đặc sản mang một hương vị khó quên thì không phải nơi nào cũng có được. Thôn Đồng Quan có nghề làm bánh đúc gia truyền từ lâu đời và cho đến nay bánh đúc làng Đồng Quan đã đạt đến trình độ tinh tế.
Bánh đúc làng Đồng Quan (Ảnh: thegioiamthuc.com)
Tuy làm từ những nguyên liệu đơn giản nhưng để cho ra những mẻ bánh đúc ngon và mang một hương vị đặc trưng riêng, bà con nơi đây phải chọn lọc kỹ càng từ nguyên liệu, tỉ mỉ từng khâu chế biến. Bánh mang vị lạc, nồng nhẹ của mùi vôi và theo anh bạn quê Đồng Sơn thì có thể kết hợp ăn với nhiều thứ, từ mật đến riêu cua, mắm tôm… nhưng hợp nhất và ngon nhất có lẽ chỉ có tương bần.
Tương La
Theo kinh nghiệm được lưu truyền ở phường Tân An, để làm được một mẻ tương như ý và đúng với kỹ thuật xưa cần trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp. Nguyên liệu làm tương La không thể thay thế được chính là gạo nếp cái hoa vàng và đậu (đỗ) tương hạt nhỏ.
Tương La (Ảnh sưu tầm)
Theo kinh nghiệm, mốc lên đều, ngả màu hoa cau, hoa thiên lý là đạt chất lượng. Mốc hỏng có màu đen hoặc màu đỏ. Tiếp đến cứ trộn đều mốc đến khi nào nắm mốc héo lại như nắm cơm chim, đặt cạnh nhau mà không dính vào nhau là được.
Có một điều khó lý giải được, mà chỉ dựa theo kinh nghiệm dân gian, đó là không phải chum vại nào dùng để đựng cũng cho ra những mẻ tương như ý, do đó việc chọn chum vại luôn được chú trọng. Ngoài chứa đựng yếu tố vật thể, tương La còn chứa đựng những nét văn hóa ẩm thực mang tính phi vật thể, đó là những tri thức, bí quyết, sự tài hoa trong chế biến của người xưa.
Chè Bát Tiên Sơn Động
Từ trước đến nay, người dân Việt Nam đã quen với cái tên chè Thái Nguyên, chè Shan tuyết Suối Giàng. Mấy ai biết rằng, trên đất Sơn Động, Bắc Ninh cũng có một loại chè thơm ngon không kém, có tên là Bát Tiên.
Chè Bát Tiên (Ảnh sưu tầm)
Chè Bát Tiên có nguồn gốc từ Đài Loan được nhập nội và trồng thành công ở một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp nên sau thời gian kiến thiết của cây, sản phẩm trè Bát Tiên Thanh Sơn đã có mặt trên thị trường và ngày càng nổi tiếng bởi hương vị đặc trưng mùi thơm hoa nhài, chỉ cần uống một lần là nhớ mãi. Sở dĩ chè Bát Tiên có giá cao hơn là do chè có mùi vị thơm ngon, có tác dụng thanh nhiệt, đặc biệt chè Bát Tiên không có lắng cặn và không làm mốc, ố, hay vàng ấm chén cho nên được thì trường ưa chuộng.
Bún Đa Mai
Bún Đa Mai chính là sản phẩm “bún” được làm ở phường Đa Mai. Bún có sợi dẻo, ăn mát, bổ, để cả ngày không chua lại trắng muốt như bột lọc. Sản phẩm bún Đa Mai nổi tiếng từ lâu đời và ngày càng phát triển với chất lượng cao. Bún Đa Mai có sợi dẻo, ăn mát, bổ để cả ngày không chua lại trắng muốt như bột lọc.
Bún Đa Mai (Ảnh sưu tầm)
Bún Đa Mai có 4 sản phẩm chính, đó là: bún rối, bún vẩy ốc, bún con ba, bún vẩy (còn gọi là bún lá). Bún vẩy ốc và bún con ba thường chỉ được chế biến khi dân làng có hội hè, hoặc có người đặt riêng. Bún rối và bún lá thì là những sản phẩm luôn luôn được chế biến và tiêu thụ hàng ngày. Bún là món ăn dân dã thích hợp với khẩu vị của nhiều người. Từ sản phẩm bún, mọi người có thể chế biến ra nhiều món ẩm thực vô cùng hấp dẫn, như: bún riêu cua, bún ốc, bún cá, bún ngan, bún vịt, bún măng, bún chân giò, bún thịt chó, bún chả, bún chấm nước mắm cà cuống, bún chấm mắm tôm, bún đậu, bún nem, nộm bún…
Gà đồi Yên Thế
Gà đồi Yên Thế là một giống gà bản địa của Việt Nam ở vùng Yên Thế thuộc Bắc Ninh. Đây là giống gà lai tạo của địa phương được nuôi theo hình thức chăn thả ở đồi, các giống gà này gọi chung với thương hiệu sản phẩm là gà đồi Yên Thế.
Gà đồi Yên Thế (Ảnh sưu tầm)
Mật ong rừng Yên Thế
Mật ong hoa rừng Yên Thế được chiết xuất từ những tổ ong nuôi trong rừng. Với vị ngọt tinh khiết, mang mùi đặc trưng của hoa rừng. Mật ong hoa rừng Yên Thế sánh, sạch, thơm tinh khiết. Sản phẩm chiết xuất tự nhiên, không pha tạp chất hay hóa chất bảo quản. Phát triển nghề nuôi ong và xây dựng thương hiệu Mật ong hoa rừng Yên Thế theo tiêu chuẩn sạch, tự nhiên là một trong những chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của xã Yên Thế.
Chè xanh Yên Thế
Yên Thế là một trong những xã miền núi của tỉnh Bắc Ninh. Với điều kiện thuận lợi về đất đai, thổ nhưỡng, tiểu vùng khí hậu phù hợp với sự phát triển của cây chè, đây là vùng chè lớn nhất của tỉnh Bắc Ninh.
Chè xanh Yên Thế (Ảnh sưu tầm)
Là huyện có địa hình đồi núi thấp, điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp nên cây chè được trồng trên đất Yên Thế sinh trưởng mạnh, nước chè thơm và ngon.
Gạo nếp Phì Điền
Trải qua khoảng thời gian dài kể từ khi giống lúa nếp cái hoa vàng di thực về xã Phì Điền cũ (nay thuộc xã Lục Ngạn), vào những năm 80 của thế kỷ trước, từ những diện tích đầu tiên được trồng tại thôn Mai Tô. Chỉ sau vài vụ thâm canh, giống lúa này đã dần thích nghi với vùng đất Lục Ngạn. Nhận thấy loại gạo rất thơm, ngon, nhiều hộ dân đã nhân rộng và cùng gieo cấy…
Gạo nếp Phì Điền (Ảnh: voso.vn)
Khi nhận được sự ưa chuộng từ thị trường, càng ngày giống gạo này lên hương trên vùng đất khó khăn Lục Ngạn, trở thành một lại cây hàng hóa, mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con nơi đây.
Cam Bố Hạ
Cam Bố Hạ là loại cam sành thường được làm quà tặng, quà biếu vào đúng dịp gần Tết Nguyên đán. Cam có vị ngọt, thơm và rất mọng nước. Loại cam này được trồng rất nhiều ở Bắc Ninh, đến tháng Mười hai âm lịch hằng năm rất nhiều người, nhiều thương nhân, lái buôn đã đổ về khắp chợ Bố Hạ để thu mua loại cam này.
Cam Bố Hạ (Ảnh sưu tầm)
Cam Bố Hạ là một trong những đặc sản trái cây nổi tiếng của Bắc Ninh. Sự hấp dẫn đặc biệt của loại cam này là mùi thơm đặc trưng, vị ngọt đậm, tép to mọng nước, ruột vàng cùng hàm lượng chất xơ, Vitamin C, chất chống oxy hóa cao cùng nhiều khoáng chất thiết yếu khác như Canxi, Kali, Sắt, Phốt pho rất tốt cho sức đề kháng, hệ miễn dịch, giảm cholesterol, chống viêm nhiễm,… Sản phẩm được trồng theo phương pháp hữu cơ, không có dư lượng chất bảo vệ thực vật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Xem thêm: Kinh nghiệm đi phượt Đồng Cao










































































































Discussion about this post