Được biết đến như vùng đất mang đậm giá trị văn hóa của làng quê Việt Nam, thể hiện qua các lễ hội đa sắc màu vô cùng đặc sắc và ẩm thực phong phú. Hưng Yên tuy không có nhiều thắng cảnh du lịch, không có biển, sông hay núi nhưng nơi đây lại có những cánh đồng trải dài vô tận, có phố Hiến sầm uất, có những ngôi chùa cổ… Tất cả đều mang đến những dư âm khó quên trong lòng mỗi du khách.
Chùa Phúc Lâm (Ảnh: Nguyễn Phương Anh)
Giới thiệu chung về Hưng Yên
Hưng Yên mới là tỉnh đồng bằng sông Hồng được hình thành từ việc sáp nhập với Thái Bình, vì thế không gian lãnh thổ vừa có vùng phù sa nội địa ven sông Hồng – sông Luộc, vừa mở ra dải đồng bằng hạ lưu giàu tiềm năng nông nghiệp – thủy sản. Địa hình bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho cây ăn quả đặc sản (nhãn lồng) và lúa nước; mạng thủy lợi Bắc Hưng Hải giữ vai trò trục tiêu – tưới then chốt. Trên nền văn minh sông Hồng, Hưng Yên nổi bật với di sản Phố Hiến (trung tâm giao thương quốc tế thế kỷ XVI–XVII) cùng hệ thống lễ hội – làng nghề và không gian văn hóa ven sông, ven biển.
Hưng Yên cách Hà Nội 54km về phía đông nam. Trải qua quá trình lịch sử các thế hệ tiền nhân xưa đã để lại trên đất Hưng Yên hàng nghìn di tích có giá trị, đó là những công trình kiến trúc: Đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ…
Chùa Phúc Lâm (Ảnh sưu tầm)
Được biết đến như vùng đất “Nhãn ngọt sen bùi”, Hưng Yên không chỉ là nơi có truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, những di tích lịch sử hào hùng của dân tộc như: Bãi Sậy, Hàm Tử, Dạ Trạch… Mà còn có những đặc sản nổi tiếng như: Gà Đông Tảo, Nhãn lồng Phố Hiến, tương bần, sen Nễ Châu, chả gà Tiểu Quan…v..v… Chính yếu tố đó đã giúp Hưng Yên trở thành một điểm đến du lịch văn hóa truyền thống hấp dẫn ở đồng bằng Bắc Bộ.
Du lịch Hưng Yên mùa nào là đẹp nhất?
Bạn có thể đi du lịch Hưng Yên bất kì thời gian nào trong năm (Ảnh sưu tầm)
Du lịch Hưng Yên bạn nên đi đường nào
Hưng Yên là một tỉnh có hệ thống đường giao thông khá thuận lợi vì thế đi về đây cũng không quá khó khăn và phức tạp. Có rất nhiều cách để đi đến Hưng Yên: xe máy, ôtô, phà và nếu như bạn không ngại vất vả thì có thể đi bằng cả xe đạp cũng được. Đường đi về Hưng Yên rất đơn giản.
Đi xe khách
Để có thể di chuyển đến Hưng Yên du khách có thể bắt xe khách tại các bến ở Thủ đô Hà Nội như bến xe Gia Lâm, bến xe nước ngầm, bến xe Giáp Bát. Hành trình xe thường sẽ bắt đầu từ 5h và kết thúc lúc 22h hàng ngày. Đối với những bạn ở khu vực Quốc lộ 5, có thể bắt xe đi Hải Phòng có đi qua Hưng Yên.
Xe máy
Nếu như bạn đi xe máy thì từ Hà Nội đến Hưng Yên thì đầu tiên bạn qua đường Giải Phóng rẽ trái vào đường vành đai 3 sau đó đi qua Cầu Thanh Trì, qua Ecopark đi tiếp đến đường mới liên tỉnh và chạy thẳng là đến Hưng Yên. Từ Hà Nội đến thành phố Hưng Yên chỉ đi mất khoảng hơn 2 tiếng đi xe máy, đường đi cũng rất thoáng và khá là an toàn.
Ngoài ra nếu bạn muốn đi từ Hà Nội tới tỉnh Thái Bình cũ có thể tham khảo 2 cách sau:
- Hà Nội chạy theo QL1A đến TT Đồng Văn cũ rẽ trái qua cầu Yên Lệnh rồi tiếp tục lên quốc lộ 39A ở địa phận Hưng Yên qua cầu Triều Dương là sang tới đất Thái Bình cũ.
- Hà Nội chạy theo QL1A tới Phủ Lý rẽ trái để vào QL21 chạy xuyên qua thành phố Nam Định cũ, tới QL10 qua cầu Tân Đệ là về tới Thái Bình cũ.
Lưu trú ở Hưng Yên
Ngoài trung tâm thành phố Hưng Yên cũ có khá nhiều khách sạn nhà nghỉ cho các bạn lựa chọn ra thì ở trung tâm các huyện cũ cũng đều có các nhà nghỉ bình dân vừa túi tiền.
Các địa điểm du lịch Hưng Yên
Thường các bạn ở Hà Nội có thể du lịch Hưng Yên đi về trong ngày. Nhìn chung giá nhà nghỉ và khách sạn ở Hưng Yên có giá tương đối rẻ, còn dịch vụ homestay ở Hưng Yên hiện chưa thực sự phát triển nên cũng khá khó tìm. Các bạn có thể thuê khách sạn hoặc nhà nghỉ cao cấp tại trung tâm tỉnh. Nếu ra trung tâm các xã phường các bạn có thể thuê nhà nghỉ với giá bình dân.
Chùa Hương Lãng
Toạ lạc tại thôn Chùa, xã Lạc Đạo, chùa Hương Lãng có tên chữ là Thạch Quang Tự, còn gọi là chùa Lạng – một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời nhất Việt Nam. Chùa Hương Lãng, tên ban đầu là Thạch Quang Tự, nay còn có tên là Viên Giác Tự. Hướng chính của chùa là hướng Nam nhìn ra sông Lạng. Chùa không chỉ thờ Phật mà còn thờ Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý, khoảng năm 1115 với cấu trúc bằng đá, có cấu tạo hình thù độc đáo mang đậm dấu ấn của nghệ thuật điêu khắc đá thời Lý bấy giờ.
Cầu Đá Cổ
Cầu đá được làm hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối (Ảnh sưu tầm)
Cầu đá là một loại hình kiến trúc đặc sắc của các làng quê nước Việt thời xưa. Vào thế kỷ 16, cây cầu này được làm bằng gỗ lim. Đến thời vưa Tự Đức, cầu được người dân làng Nôm xây lại hoàn toàn bằng đá xanh. Nằm ở xã Đại Đồng, cầu đá làng Nôm Bắc qua sông Nguyệt Đức, được các nhà nghiên cứu di sản đánh giá là cây cầu đá cổ đẹp nhất Việt Nam còn tồn tại đến nay.
Phố Hiến
Khu phố tọa lạc trên hai phường Sơn Nam và Hồng Châu, trải rộng khoảng 5km2 và được hình thành từ khoảng thế kỷ XIII. Trước đây phố Hiến đã từng là một thương cảng sầm uất nhất cả nước vào thể kỷ XVII – XVIII. Tuy Không còn vẻ nhộn nhịp như xưa nhưng Phố Hiến nay đã trở thành một phố cổ, bình yên đến lạ thường.
Phố Hiến (Ảnh: wikipedia)
Trong những ngày cuối xuân ở nơi này, hoa gạo đỏ rực rơi ở quanh gốc, hoa xoan tím phơn phớt kín đáo đang tỏa hương, những bụi tre xào xạc thay chiếc áo lá cháy vàng bằng màu xanh lá non và bạt ngàn cây nhãn đang âm thầm nảy lộc.Tại Phố Hiến có một số quần thể kiến trúc lớn nổi bật như: đền Mẫu, hồ Bán Nguyệt, chùa Hiến, chùa Chuông,… Mỗi một công trình đều mang đậm dấu ấn văn hóa lịch sử lâu đời.
Chùa Hiến
Đô thị Phố Hiến từng là nơi hội tụ của nhiều cư dân đến buôn bán (Ảnh sưu tầm)
Chùa Hiến có tên chữ Hán là “Thiên Ứng tự”, thuộc địa phận Phố Hiến Hạ, nay là đường Phố Hiến, phường Hồng Châu. Tương truyền chùa được xây dựng từ thời Trần, niên hiệu Thiên Ứng của vua Trần Thái Tông (1232-1250), do Tô Hiến Thành, quan đại thần nhà Lý hưng công xây dựng. Đến năm 1625, 1709 chùa được trùng tu lại. Chùa Hiến có bố cục kiến trúc kiểu “nội công ngoại quốc”, gồm tiền đường, thiên hương, thượng điện và ba mặt là hành lang. Chùa Hiến còn nổi tiếng có cây nhãn Tổ, chính xác ra tên gọi là cây nhãn tiến, nằm phía trước cửa chùa. Đây là cây nhãn đường phèn có dáng hình đẹp, mã lụa, quả to, cùi dày, hương vị thơm ngon đặc sắc nhất.
Đền Ghềnh
Cổng vào Đền Ghênh hôm nay (Ảnh sưu tầm)
Đến thăm đền Ghênh tại thôn Ngọc Quỳnh, xã Như Quỳnh, du khách thập phương được về với nơi lưu dấu ấn lịch sử của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, một người phụ nữ tài, đức vẹn toàn, một bậc mẫu nghi thiên hạ đã suốt đời vì dân, vì nước. Bà là người phụ nữ duy nhất trong lịch sử Việt Nam nắm quốc quyền, hai lần nhiếp chính thay vua trị vì đất nước. Năm 1989, nhân dân trong vùng và khách thập phương đã hưng công dựng lại đền Ghênh trên nền đất cũ và rước pho tượng Đức Bà từ đền – chùa Dương Xá về an vị tại đền Ghênh để nhân dân địa phương và du khách bốn phương về thắp hương.
Đền Phượng Hoàng
Đền đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1991 (Ảnh sưu tầm)
Đền Phượng Hoàng nằm trên một khu đất thoáng đãng ngay đầu thôn Phù Oanh, xã Tiên Tiến. Đền Phượng Hoàng có quy mô không đồ sộ nhưng từ tổng thể kiến trúc đến cách bài trí đồ thờ. Tự tạo nên vẻ đẹp linh thiêng và thành kính. Hiện nay, đền còn lưu giữ một số hiện vật như: Câu đối, đại tự, khám thờ, chuông đồng, kiệu long đình. Đền thờ nàng Cúc Hoa, vợ của “Lưỡng quốc Trạng nguyên” Tống Trân. Hàng năm, từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch nhân dân địa phương lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ đến công lao, đức hạnh của bà. Hiện nay, đền còn lưu giữ một số hiện vật như: Câu đối, đại tự, khám thờ, chuông đồng, kiệu long đình.
Làng hương Cao Thôn
Làng sản xuất 3 loại chính là hương sào, hương nén và hương vòng (Ảnh sưu tầm)
Cách Hà Nội khoảng 40km, làng nghề hương xạ Cao Thôn thuộc phường Sơn Nam, là 1 trong những làng nghề truyền thống làm hương lớn nhất của cả nước. Nghề làm hương xạ Cao Thôn có truyền thống từ xa xưa, được truyền từ đời này sang đời khác. Nhìn những nén hương xạ Cao Thôn tuy khá đơn giản, mộc mạc nhưng công đoạn từ pha chế bột, se, nhúng, phơi, đảo đều được thực hiện hết sức chi tiết, tỉ mỉ, mang trong đó là tâm huyết và cái tâm trong sáng của người làm nghề.
Làng Nôm
Làng Nôm thuộc xã Đại Đồng, cách thủ đô Hà Nội khoảng 20km. Năm tháng trôi qua, làng Nôm vẫn là mảnh đất được người dân Hưng Yên trân trọng, gìn giữ. Trước cuộc sống nhộn nhịp, xô bồ, thật khó có nơi nào mà người ta cảm thấy yên bình đến vậy.
Làng Nôm (Ảnh sưu tầm)
Những nét đẹp kiến trúc, văn hóa và con người vẫn vẹn nguyên sau hơn 200 năm biến động. Ở làng Nôm, vẻ đẹp truyền thông dung dị như cây đa, giếng nước, mái đình vẫn được gìn giữ. Qua cánh cổng làng rêu phong, khung cảnh bên trong làng mang đặc trưng của làng quê cổ Việt Nam.
Cánh đồng hoa Cúc Chi
Hoa cúc chi, hay còn được gọi là hoa kim cúc, hoàng cúc. Là “đặc sản” của vùng đất phố Hiến mỗi dịp cái lạnh ùa về miền Bắc. Từ nội thành Hà Nội bạn có thể chạy xe máy chưa đầy 1 tiếng đồng hồ là có thể đến được đây rồi. Hoa cúc chi còn có một tên gọi cao quý khác đó là “cúc tiến vua’. Bởi vì “cúc tiến vua” khác với cúc họa mi Hà Nội dùng để trưng, để ngắm. Cúc chi vàng được trồng chủ yếu để làm trà, làm thuốc.
Sắc vàng hoa cúc chi tạo nên khung cảnh rực rỡ (Ảnh sưu tầm)
Vườn hoa cúc chi Hưng Yên chỉ cách Hà Nội chưa đầy 30km nên từ trung tâm thành phố, du khách đi qua cầu Vĩnh Tuy đến Quốc lộ 5, tới thị trấn Như Quỳnh cũ, rẽ chợ Như Quỳnh khoảng 2km là tới cánh đồng hoa cúc thôn Nghĩa Trai.
Đền Chử Đồng Tử
Đền Chử Đồng Tử được nhân dân xây dựng bao gồm 2 đền: đền Đa Hòa thuộc thôn Đa Hoà, xã Mễ Sở và đền Dạ Trạch thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Triệu Việt Vương. Cả hai ngôi đền này đều thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân. Hai ngôi đền này đều xây dựng theo kiến trúc cổ nhưng lại có sự khác biệt tương đối rõ rệt. Ngoài ra, trên khắp đất nước Việt Nam còn có nhiều nơi hơn nữa thờ Chử Đồng từ và Tiên Dung công chúa hay Hồng Vân công chúa.
Đền Chử Đồng Tử (Ảnh sưu tầm)
Vào ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại đền Chử Đồng Tử sẽ diễn ra lễ hội lớn mang đến nhiều trải nghiệm văn hóa thú vị cho du khách. Ngôi đền này được cho là nơi còn tồn tại nhiều di vật quý hiếm nhất trong đó có đôi lọ Bách thọ (một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào, khắc trên thành lọ bằng gốm), nó được coi là một cổ vật vô giá của dân tộc.
Làng Thủ Sỹ
Làng nghề Thủ Sỹ Hưng Yên cách trung tâm tỉnh Hưng Yên khoảng 7km nổi tiếng với nghề đan đó truyền thống. Ngày nay nơi đây không chỉ trở thành điểm du lịch văn hóa thú vị mà còn là trở thành cảm hứng nghệ thuật vô tận của nhiều nhiếp ảnh gia trong nước lẫn quốc tế.
Khung cảnh tại làng quê trở thành cảm hứng sáng tạo cho nhiều nhiếp ảnh (Ảnh sưu tầm)
Từ bao đời này, ngành nông nghiệp luôn gắn liền với đời sống của các vùng nông thôn Việt Nam. Bên cạnh việc cày cấy thì người nông dân luôn tìm cách tăng gia sản xuất, đánh bắt cá tôm để cải thiện cuộc sống. Trong quá trình sản xuất đó, người nông dân đã phát minh ra nhiều loại công cụ tiện lợi trong đó phải để đến chiếc rọ để đánh bắt cá tôm. Đây là một loại dung cụ truyền thống của nhiều nhà nông ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Nguyên liệu chính để tạo thành một chiếc đó chỉ gồm tre, nứa đan lại với nhau thế nhưng hiện tại đây không chỉ là loại ngư cụ lâu đời mà còn được sử dụng trong trang trí mỹ thuật hay nội thất.
Chùa Phúc Lâm
Gần đây, chùa Phúc Lâm nổi lên là một điểm du lịch tâm linh đặc sắc tại Hưng Yên. Nằm ở một miền quê thanh bình của đồng bằng Bắc Bộ nhưng chùa Phúc Lâm lại sở hữu lối kiến trúc dát vàng cực kỳ ấn tượng. Địa danh này cũng được mệnh danh là “chùa vàng Thái Lan” tại Việt Nam. Chỉ 1 với giờ di chuyển bằng xe máy từ trung tâm thủ đô Hà Nội là đã có mặt tại chùa Phúc Lâm ở Hưng Yên rồi đây. Chùa tọa lạc trong khuôn viên khoảng hơn 4 ha đất, nơi đây có rất nhiều cây xanh và tiểu cảnh được bài trí đẹp.
Chùa Phúc Lâm (Ảnh sưu tầm)
Tọa độ chính xác của Chùa Phúc Lâm là tại thôn La Mát, xã Phạm Ngũ Lão, đang là địa điểm du lịch tâm linh đặc biệt hấp dẫn du khách đặc biệt trong dịp ngày rằm tháng Giêng với phong cảnh làng quê yên bình và đầy thanh tịnh. Chùa Phúc Lâm là ngôi chùa cổ có tuổi đời khá lâu năm. Vốn nổi tiếng là điểm đến tâm linh, gần đây, ngôi chùa lại đón đông đảo lượt khách thập phương đổ về chính nhờ kiến trúc độc đáo, cực kỳ ấn tượng được ví von như xứ chùa vàng Thái Lan.
Chùa Chuông
Chùa Chuông còn được gọi với một tên gọi khác là Kim Chung Tự (Ảnh sưu tầm)
Ngôi chùa nổi tiếng với hệ thống kiến trúc độc đáo, các pho tượng cổ và được mệnh danh là “Phố Hiến đệ nhất danh lam”. Nằm ngay tại thôn Nhân Dục, thuộc quần thể di tích Phố Hiến. Theo thời gian, ngôi chùa ngày càng trở nên cố kính và thu hút đông đảo nhiều du khách ghé thăm. Trong chùa hiện đang cất giữ nhiều di cổ giá tri như: câu đối, hoành phi, bia đá, đồ thờ, trong đó bia “Kim Chung tự thạch bi ký” dựng năm 1711 mô tả vị trí cảnh quan trong chùa và người có công tu tạo. Ngôi chùa cũng là một trong 16 di tích tiêu biểu nhất trong Quần thể di tích “Quốc gia đặc biệt khu di tích Phố Hiến”.
Bãi Biển Cồn Vành
Cồn Vành chỉ các thủ đô Hà Nội chừng 140km (Ảnh sưu tầm)
Bãi biển cồn Vành tọa lạc phương thức đất liền 7km, thuộc huyện Tiền Hải cũ. Phía Bắc Cồn Vành giáp với Cồn thủ, phía Nam giáp với cửa Ba Lạt, phía đông giáp biển Đông còn phía Tây giáp với đê PAM. Biển Cồn Vành còn khá hoang sơ và nằm trong khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Nơi đây đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển châu thổ của sông Hồng. Với bãi cát dài gần 6km toàn phù sa và không mịn vàng như bao bờ biển khác. Tuy nhiên bờ biển này cực trong và sạch.
Nhà thờ Bác Trạch
Các họa tiết, hoa văn được làm một cách cầu kỳ và vô cùng tinh tế, sắc sảo (Ảnh: Phương Thảo)
Nhà thờ Bác Trạch hay còn gọi là Đền thánh đức mẹ mân côi nằm ở xã Tây Tiền Hải, cách trung tâm thành phố Thái Bình cũ khoảng 25km. Đây được coi là một trong những nhà thờ có tuyệt tác kiến trúc đẹp nhất Việt Nam, một kỳ công về kiến trúc Gothic, vốn được thấy nhiều dấu ấn nhất trong các nhà thờ lớn, các vương cung thánh đường. Nhà thờ Bác Trạch được xây dựng theo lối kiến trúc Gothic kinh điển thời xưa và kết hợp với lối kiến trúc của Hy Lạp ở 2 bên sườn của nhà thờ.
Biển Đồng Châu
Bình minh trên biển Đồng Châu (Ảnh: Thủy Nguyễn)
Nằm ở xã Đồng Châu, cách thành phố Thái Bình cũ chừng 35 km, tuy không được đẹp như các bãi biển khác, nhưng bãi biển Đồng Châu lại mang rất nhiều nét đẹp hoang sơ, tạo nên sự ấn tượng, độc đáo cho du khách tới đây. Ở trung tâm là bãi tắm dài 5km, bạn không những được tắm biển mà còn được ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên với những rừng thông, phi lao xanh ngát ven biển.
Chùa Keo
Chùa Keo có tên là “Thần Quang Tự” (Ảnh sưu tầm)
Chùa Keo thuộc xã Vũ Tiên, và có tuổi đời gần 400 năm nhưng vẫn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc cổ kính. Dân gian còn gọi ngôi chùa ở Thái Bình cũ là Keo trên, phân biệt với chùa Keo dưới ở Ninh Bình, theo dòng chảy của con sông. Toàn bộ khuôn viên chùa rộng hơn 41.500m2, gồm 16 tòa kiến trúc với 116 gian xây dựng.
Trong khuôn viên chùa có 3 hồ lớn gồm hồ giữa tam quan ngoại và tam quan nội và hai hồ phía sau dãy hành lang đông và tây. Toàn bộ ngôi chùa được làm bằng gỗ lim, không sử dụng đinh tán mà chỉ dùng mộng gỗ ghép lại với nhau. Hàng năm chùa Keo có hai ngày hội chính. Hội Xuân vào ngày mùng 4 tháng giêng và hội Thu vào trung tuần tháng chín âm lịch.
Biển Cồn Đen
Cồn Đen có địa hình tương đối bằng phẳng (Ảnh: Bùi Văn Tình)
Khu du lịch sinh thái biển Cồn Đen thuộc địa phận xã Đông Thái Ninh. Nằm cách thủ đô Hà Nội 150 km và cách trung tâm thành phố Thái Bình cũ khoảng 60 km. Cồn Đen có địa hình tương đối bằng phẳng với dải cát dài khoảng 3km, chiều rộng chỗ lớn nhất khoảng 700m, chỗ hẹp nhất 450m; được hình thành do kiến tạo bồi đắp phù sa và bùn cát của sông Trà Lý. Với những bãi cát trải dài, độ dốc vừa phải, quanh năm sóng vỗ êm đềm, Cồn Đen cũng là nơi rất thích hợp để tắm biển mỗi dịp hè về.
Đền Đồng Xâm và làng chạm bạc Đồng Xâm
Đồng Xâm ngày nay thuộc xã Trà Giang, làng nghề chạm bạc Ðồng Xâm có tên cũ là Ðường Thâm. Tương truyền nghề chạm bạc Đồng Xâm đã có từ thế kỷ 15. Cách thành phố Thái Bình cũ chừng 20 km về phía đông khi đến gần làng bạn sẽ nghe văng vẳng đâu đó âm vang chạm khắc trong không gian yên bình của một đồng quê lúa mênh mông. Nếu có dịp đến Đồng Xâm vào ngày 1-5 tháng 4 âm lịch, bạn còn được hòa mình trong không khí sôi động của lễ hội đền Đồng Xâm với nghi lễ rước, tế linh đình, các trò chơi dân gian.
Thuỷ toạ là một ngôi nhà hình lục lăng cao gồm sáu cửa vòm (Ảnh sưu tầm)
Đền Đồng Xâm với tổng thể khoảng 1.000m² xây dựng có 12 hạng mục kiến trúc, trong đó đáng chú ý nhất là tòa hậu cung nơi Thánh Triệu Đà và Trình Thị Hoàng Hậu ngự. Mặt tiền đền Đồng Xâm đắp nổi ba chữ “Nhất thống thủy” bằng gốm sứ cổ xưa. Đây là ý của tiền nhân nhắn nhủ hậu thế về dòng chảy lịch sử nước Việt. Hậu cung đền được bài trí công phu với nhiều đại tự, cuốn thư, câu đối cùng hệ thống y môn gỗ chạm tinh xảo. Nơi đây cũng lưu giữ nhiều bài thơ, câu đối lưu bút danh bái đề của những danh sĩ nổi tiếng như Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, tiến sĩ Doãn Khuê, phó bảng Vũ Tuân…
Làng vườn Bách Thuận
Cây thế được nghệ nhân làng vườn Bách Thuận tạo nên (Ảnh sưu tầm)
Làng vườn Bách Thuận thuộc huyện Vũ Thư cũ đến nay đã có hơn 100 năm tuổi đời, đây là một làng quê cổ tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, cũng là làng vườn duy nhất của tỉnh Hưng Yên còn lưu giữ nhiều nếp nhà Việt cổ và có nghề trồng cây cảnh lâu đời. Dọc hai bên đường làng là rất nhiều cây với màu sắc khác nhau, màu xanh thẫm của ngâu, màu đỏ của hoa mẫu đơn, cây ngũ sắc… Ngoài ra, du khách sẽ choáng ngợp với hàng trăm loại cây trái nối tiếp nhau, kéo dài như vô tận như: táo, ổi, roi, mận, chanh, nhãn, vải, hồng xiêm, cam, quýt, nhót… Bên cạnh những vườn cây ăn quả là những vườn cây cảnh, cây thế. Mỗi loại cây cảnh đều mang một dáng nét riêng với những tên gọi khác nhau tuỳ theo sự uốn tỉa của các nghệ nhân.
Đền Trần
Đây là một tổng thể kiến trúc rộng lớn, là nơi thờ tự các vua Trần (Ảnh sưu tầm)
Cùng với đền Trần – Ninh Bình, đền Trần Hưng Yên thuộc xã Long Hưng, với những nét mới trong kiến trúc càng ngày càng thu hút được rất nhiều khách du lịch thập phương. Nhất là trong các dịp lễ hội đầu năm, đây chính là điểm đến tâm linh, nơi thưởng thức những trò chơi giải trí mang đậm dấu ấn cổ truyền cho nhân dân cả nước. Trên diện tích 5175m2, đền thờ các vua Trần và Đức thánh Trần Hưng Đạo đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà hậu cung, toà bái đường, tả vu, hữu vu, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan.
Làng nghề dệt khăn, dệt vải Phương La
Nghề dệt ở xã Tiên La, có ở làng Phương La từ nhiều đời nay, làng này còn có tên là làng ‘Mẹo’ nổi tiếng khắp cả nước. Cũng như nghề chạm bạc, nghề dệt đũi, dệt Thái Phương cũng là làng chuyên nghề truyền thống, việc dạy nghề, truyền nghề trước đây hết sức khó khăn, vì vậy nó không phát triển mạnh mà chỉ bó hẹp theo quan niệm làng nghề nhưng thực chất là nghề của làng. Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, thì nghề dệt của Phương La đã có cách đây gần 800 năm.
Làng dệt chiếu Hới
Làng nghề dệt chiếu Hới đã có truyền thống làm nghề vô cùng lâu đời (Ảnh sưu tầm)
Mọi người vẫn hay gọi tên loại chiếu nơi đây là “chiếu Hới” vì những chiếc chiếu này được dệt ở làng Hới thuộc xã Long Hưng. Theo truyền thuyết kể lại thì vào thời vào thời Tiền Lê – Lý vào thế kỷ X – XI, tại làng đã bắt đầu dệt chiếu, sau đó phát triển mạnh nhất vào thời Hậu Lê.
Và người mang công lao lớn nhất thời bấy giờ chính là vị Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ. Nguyên liệu chủ yếu được dùng để làm chiếu chính là cói và sợi đay. Chiếu Hới có rất nhiều loại, có loại chiếu cài hoa, loại lại được làm trơn, loại chiếu sợi xe,… Những người thợ chiếu thường dệt đa dạng những loại hoa văn khác nhau từ bông hoa, cải chữ thọ, chữ lồng hay vẽ,…
Đền Tiên La
Đền Tiên La (Ảnh sưu tầm)
Đền Tiên La thờ Bát Nạn Tướng Quân, bà là tướng quân phá nạn cho dân – một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Nay đền nằm tại thôn Tiên La, xã Tiên La. Toạ lạc trên một diện tích khoảng 4000m² trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay đền có quy mô to lớn, đẹp lộng lẫy cả về địa thế và vóc dáng, bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, toà tiền tế, toà trung tế, thượng điện và hệ thống sân đền.
Điều đặc biệt là toàn bộ vật liệu xây dựng ở toà bái đường đều làm bằng đá như hệ thống cột, xà, kèo… Tất cả đều được chạm trổ công phu tạo nên cho nơi này toát lên vẻ đẹp hoàn mỹ hiếm. Hàng năm vào ngày 10-20/3 âm lịch nơi đây thường diễn ra Lễ hội đền Tiên La thu hút đông đảo du khách thập phương về dự.
Đền Đồng Bằng
Đền Đồng Bằng là nơi thờ đức vua cha Bát Hải Động Đình (Ảnh sưu tầm)
Đền Đồng Bằng tọa lạc tại xã Đồng Bằng, được nhân dân biết đến là một ngôi đền linh thiêng có từ thời vua Hùng Vương thứ 18. Đền có sắc phong “Tam Kỳ Linh Ứng – Vĩnh Công Đại Vương Tối Thượng Đẳng Linh Thần”. Không chỉ mang những giá trị lịch sử đáng trân trọng, đền Đồng Bằng còn là di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị như một bảo tàng mỹ thuật đồ đồng, đồ đá và đồ gỗ với diện tích nội tự là 6.000m2, gồm 13 tòa, 66 gian liên hợp chặt chẽ với nhau tạo thành quần thể ngôi đền với kết cấu theo kiểu “tiền nhị hậu đinh” khép kín, bề thế. Theo tục lệ hàng năm, lễ hội đền Đồng Bằng được tổ chức kéo dài khoảng một tuần từ ngày 20/8 đến ngày 26/8 âm lịch, lễ hội thu hút đông đảo con nhang đệ tử, nhân dân và du khách gần xa.
Đền Thánh Mẫu
Dân trong vùng có người hiếm muộn con cái hay duyên muộn hay đến đây cầu bái (Ảnh sưu tầm)
Đền Thánh Mẫu là di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng thuộc xã Đông Hưng. Đền thờ một bà Hoàng hậu nhà Đinh có tên húy là Đinh Thị Tỉnh, hiệu Trinh Minh hoàng hậu. Từ nhiều thập kỷ qua, giới nghiên cứu tín ngưỡng dân gian trong và ngoài nước đều thống nhất nhận định: tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian giàu tố chất nhân văn độc đáo của Việt Nam.
Đình An Tiêm
Đình An Tiêm tọa lạc trên một mảnh đất rộng giữa làng An Tiêm, xã Tây Thụy Anh. Không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng, trong những năm kháng chiến, đình An Tiêm có lúc trở thành căn cứ địa cách mạng, có lúc lại là kho giữ thóc của cả làng. Lễ hội chính của đình An Tiêm được tổ chức trong 3 ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch. Năm 2011, đình An Tiêm đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia.
Đền Chòi
Lễ hội chính của đền Chòi được mở vào ngày mùng 2 tháng 7 âm lịch hàng năm (Ảnh sưu tầm)
Đền Chòi thuộc xã Đông Thụy Anh, đây là một địa điểm du lịch chỉ cách trung tâm TP Thái Bình cũ khoảng 25km. Đây cũng là một trong những công trình nằm trong cụm di tích lịch sử cấp Quốc gia: đền Chòi-chùa Bến-chùa Chỉ Bồ được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận vào năm 1989, nhờ lưu giữ nhiều giá trị lịch sử văn hoá và có quy mô kiến trúc rất độc đáo.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII, đền Chòi là đồn luỹ đóng quân của quân đội nhà Trần, một trong những trạm gác tiền tiêu của hệ thống đồn luỹ phòng thủ hai bên bờ sông Hoá. Cũng tại địa điểm này đã diễn ra hai sự kiện lịch sử quan trọng: vào năm 1285, trên đường rút quân tránh sự truy đuổi của quân giặc, vua Trần đã qua đây nghỉ ngơi, nhân dân địa phương đã giúp quan quân làm nhiều thuyền ngự thả trôi trên biển để đánh lừa quân giặc, giúp đức vua vào Thanh Hoá an toàn.
Ăn gì khi du lịch Hưng Yên
Bánh dày làng Gàu
Làng Gàu thuộc xã Phụng Công, vốn nổi tiếng với thứ bánh dày dẻo, dai, trắng nõn. Bánh dày làng Gàu cùng với tương Bần và rượu Trương Xá đã làm nên nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của người Hưng Yên.
Bánh dày làng Gàu (Ảnh sưu tầm)
Khi nhắc đến bánh dày, hẳn ai cũng sẽ nhớ đến sự tích “Bánh chưng bánh dày” đã quá nổi tiếng trong dân gian Việt Nam. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương thì những chiếc bánh chưng, bánh dày lại được làm như một cách tưởng nhớ công ơn dựng nước của các vua Hùng. Tại vùng đất văn hiến Hưng Yên, món bánh dày ở làng Gàu đã trở thành một món ăn đặc sản gắn liền với địa danh này.
Bún thang lươn
Cách nấu bún thang lươn đơn giản nhưng gồm nhiều công đoạn khá công phu (Ảnh sưu tầm)
Bún thang lươn tuyệt hảo như một bức tranh muôn màu bởi sự hấp dẫn của màu sắc các nguyên liệu. Đó là sự kết hợp tinh túy của các nguyên liệu như: nền trắng của bún, màu vàng của trứng gà, màu nâu vàng của lươn, màu trắng ngà của giò lụa, màu vàng béo của thịt ba chỉ kết hợp với màu xanh của rau răm, hành lá. Món ăn được ví như một thang thuốc bổ có nhiều dưỡng chất tạo cho bát bún trở thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo.
Để có những bát bún thang ngon đậm đà đủ màu sắc như vậy, người nấu phải chọn lựa kĩ lưỡng từng nguyên liệu. Ước tính cần phải có 20 nguyên liệu mới đủ để làm bát bún thang lươn Phố Hiến.
Ếch om Phượng Tường
Vùng quê chiêm trũng này những ngày vào vụ, ếch ở những con kênh, thửa ruộng kêu râm ran suốt đêm. Là món ăn truyền thống từ rất lâu đời, nó đã được đưa vào ca dao như thế này: “Đi thì nhớ vợ cùng con. Về nhà lại nhớ ếch om Phượng Tường”. Những người lớn tuổi ở làng này không biết thực sự là câu ca dao có tự bao giờ, chỉ biết là lúc họ lớn, họ biết đi bắt ếch thì đã được nghe rồi.
Ếch om Phượng Tường (Ảnh sưu tầm)
Có lẽ món ếch om Phượng Tường đặc biệt ở khâu chế biến là dùng tổng hợp nhiều nguyên liệu, gia vị của vùng quê. Nguyên liệu để làm món ếch om Phượng Tường có vỏ quýt khô, mẻ, mộc nhĩ, hạt tiêu, mắm tép và nước mỡ. Băm nhỏ những nguyên liệu này và đem ngâm với thịt ếch khoảng nửa tiếng để thịt đậm đà hơn, sau đó đem nấu thịt ếch, thêm măng hoặc thịt ba chỉ để nấu rồi om cùng. Và cả đặc biệt trong mùi vị dân dã của món. Đó là vị béo của thịt ếch, vị cay thơm từ vỏ quýt khô, tiêu, mẻ, vị giòn giòn của mộc nhĩ và cả mùi thơm đặc biệt từ mắm tép…
Bánh cuốn Phú Thị
Bánh cuốn Phú Thị (Ảnh sưu tầm)
Không nổi tiếng bằng bánh cuốn Thanh Trì, không ồn ào như bánh cuốn trứng Cao Bằng, bánh cuốn Phú Thị lặng lẽ hơn nhưng đã nếm thử thì không thể quên. Lớp vỏ bánh trắng tinh cuộn bên trong là nhân thịt với hành khô, bánh không có quá nhiều loại gia vị nên khi ăn chúng ta sẽ thấy được vị thanh dễ chịu. Bánh cuốn chấm với nước chấm chanh tỏi ớt cùng với một ít thịt rắc ở trên sẽ là hương vị khó quên với du khách khi ghé qua nơi đây.
Từ Hà Nội men theo con đê sông Hồng khoảng 45 phút là bạn sẽ đặt chân đến mảnh đất Mễ Sở với nhiều các di tích lịch có giá trị như chùa Mễ Sở, chùa Phú Thị và sẽ được thưởng thức rất nhiều các món ăn đặc sản nơi đây trong đó đặc biệt nhất là bánh cuốn làng Phú Thị.
Chả gà Tiểu Quan
Tiểu Quan là một thôn thuần nông của xã Khoái Châu. Ngay cả các vị cao niên trong làng cũng không ai còn nhớ nguồn gốc, sự ra đời của món chả gà có từ bao giờ mà chỉ biết từ khi lớn lên đã thấy những người trong làng chế biến và thưởng thức món ăn này vào những dịp lễ hay Tết.
Chả gà Tiểu Quan (Ảnh sưu tầm)
Để có được món chả gà thơm ngon, người Tiểu Quan phải kỹ lưỡng ngay từ khâu chọn gà. Khác hẳn với món chả thịt lợn nướng, chả gà nướng không để miếng mà là thịt gà nạc tinh. Gà thịt để làm chả phải là loại gà trống tơ nặng khoảng 1,2 – 1,5kg, chưa thiến và chưa đạp mái. Gà làm sạch, chọn chỗ thịt nạc nhất, bỏ hết gân xương rồi thái miếng nhỏ con chì, sau đó cho vào cối giã như giã giò lụa truyền thống. Khi thịt gần nhuyễn thì trộn thêm lòng đỏ trứng gà, nước mắm ngon, bột nêm, hạt tiêu, gừng và một chút mỡ lợn thái hạt lựu rồi giã tiếp.
Canh cá rô
Người Hưng Yên còn tự hào bởi đặc sản canh cá rô, một món ăn đậm chất hương đồng gió nội khác của mảnh đất trù phú. Canh cá rô Hưng Yên là canh cá ngọt, được ăn cùng rau cải trần.
Canh cá rô (Ảnh sưu tầm)
Cá rô đồng đã nổi tiếng thơm ngon, cách chế biến lại kì công như vậy nên càng ngọt thịt, đậm đà. Canh cá rô được ăn cùng bánh đa Hưng Yên chính hiệu và đậu phụ rán vàng giòn.
Đi dọc tuyến đường từ Kim Động về TP Hưng Yên cũ sẽ nhìn thấy rất nhiều quán cá rô đồng mọc lên. Dù mọc lên gần nhau, nhưng kỳ lạ thay, vào mỗi buổi sáng, quán nào quán nấy đều đông khách. Nhiều người đi muộn còn không có cả chỗ để ngồi hoặc không còn đồ để ăn.
Tương bần
Lu ủ tương Bần (Ảnh sưu tầm)
Từ xa xưa tương Bần là thứ sản vật ngon dùng để tiến vua. Ngày nay, tương Bần vẫn nổi tiếng khắp nơi và trở thành một loại nước chấm đặc sản khiến nhiều người “mê mẩn”.
Nguyên liệu làm tương Bần không khó kiếm nhưng công đoạn làm tương cực kỳ công phu và mất thời gian. Hơn nữa, để có những bát tương vàng ươm, thơm nức và ngọt đòi hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm rất nhiều từ bàn tay của người thợ và “bí quyết” của từng gia đình. Phải mất ít nhất một đến hai tháng người thợ mới cho ra được một mẻ tương Bần. Tuy nhiên, thời gian lâu hay nhanh còn tùy thuộc vào thời tiết có nắng hay không.
Chỉ cần gạo nếp cái hoa vàng, đỗ tương và muối là đã có thể làm tương. Ba công đoạn chính là lên mốc xôi nếp, ngả đỗ và phơi tương (ủ tương).
Nhãn lồng
Hưng Yên được mệnh danh kinh đô của các loại nhãn, với những trái nhãn lồng có vị ngon bậc nhất ít nơi sánh bằng. Tương truyền xa xưa ở chùa Hiến thuộc tỉnh Hưng Yên, có một cây nhãn xum xuê cành lá, năm nào cũng sai quả mã đẹp khác thường, được người dân gọi là nhãn tổ.
Nhãn lồng Hưng Yên (Ảnh sưu tầm)
Một ngày kia, có một vị quan đi tuần ngang qua vào đúng mùa nhãn chín. Ngài ăn thử, để rồi lập tức bị hương vị ngọt ngào và những thớ thịt nhãn căng mọng, giòn dai mê mẩn, liền nhận ra đây là đặc sản quý báu bèn mang về cung dâng cho vua, từ đó được gọi là “vương giả chi quả”.
Gà Đông Tảo
Gà Đông Tảo (Ảnh sưu tầm)
Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu cũ, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào. Gà Đông Tảo có thể được nấu thành nhiều món, nhưng độc đáo nhất là món “vảy rồng hầm thuốc bắc” làm từ đôi chân to quá khổ của chúng.
Bánh răng bừa Phụng Cưa
Nhắc đến làng Phụng Công, nhiều người biết đó là làng nổi tiếng trồng cây cảnh. Nhưng còn có một sản phẩm nữa cũng nổi tiếng không kém, đã tồn tại hàng trăm năm qua, đó là món bánh tẻ mà người dân ở đây quen gọi là với cái tên khá lạ- bánh răng bừa, bởi chiếc bánh mang hình thù như chiếc răng bừa.
Bánh răng bừa Phụng Cưa (Ảnh sưu tầm)
Gạo làm bánh ở Phụng Công là gạo tám xoan, hay tám lim, được ngâm trong nước từ 3-4 tiếng, vo sạch, sau đó đem xay nhuyễn thành bột. Bột xay rồi được đem quấy đều trên bếp than hồng đến độ chừng bảy phần chín thì bắc ra, tiếp tục quấy đều tay cho nhuyễn dẻo, người trong nghề gọi là giáo bột, rồi tãi ra mâm cho bột nguội hẳn mới tiến hành gói.
Nhân bánh gồm thịt mông sấn thái nhỏ hạt lựu, hành củ, nước mắm, cà cuống, mì chính, trộn lẫn cho vào chảo đảo đều, chín tới bắc ra, mộc nhĩ, hạt tiêu, dọc hành thái nhỏ đổ vào trộn lẫn. Trong từng công đoạn làm bánh, người Phụng Công khá cầu kỳ và tỉ mỉ. Lá để gói bánh là lá dong được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, mềm dai và có mầu xanh khác hẳn với lá dong có một mầu xanh mướt.
Bánh cáy làng Nguyễn
Đây là món ăn ngon, nổi tiếng ở Hưng Yên (Ảnh sưu tầm)
Tên gọi của bánh bắt nguồn từ hạt nếp cái hoa vàng đem ngâm, trộn gấc đỏ đồ xôi, rồi ép dẻo, xắt hạt lựu lại đem phơi khô (có màu vàng giống trứng con cáy nên bánh có tên gọi là bánh cáy). Vùng Thái Bình cũ có nhiều nơi làm bánh cáy nhưng nổi tiếng hơn cả vẫn là loại bánh có xuất xứ từ làng Nguyễn, thuộc xã Đông Hưng. Bánh cáy thành phẩm đạt chất lượng phải đảm bảo độ ngọt vừa phải, thơm mùi lạc, vừng rang, ngậy vị của mứt bí, độ béo của xôi, dừa và vị cay cay của gừng…
Gỏi Nhệch Thái Thụy
Nhệch khi ăn được chấm nước mắm loại đặc biệt, ăn cùng lá xung, lộc vừng (Ảnh sưu tầm)
Nhệch không phải cá, không phải rắn cũng chẳng phải lươn. Nó có mình dài, bụng trắng và sống được cả ở trong môi trường nước mặn lẫn nước ngọt. Nhệch có thể chế biến thành nhiều món ngon, nhưng với người Diêm Điền, Thái Thụy thì món gỏi nhệch vẫn là số 1. Gỏi nhệch được dùng kèm với các loại lá như cúc tần, vọng cách, đinh lăng, mùi tàu, húng quế, lá sắn, lá sung, lá si, hoa chuối, chuối tiêu xanh, khế quả, ớt… với các vị chua, cay, đắng, chát, thơm, bùi.
Canh cá Quỳnh Côi
Canh cá Quỳnh Côi (Ảnh sưu tầm)
Nguyên liệu làm món canh cá là bánh đa Quỳnh Côi sợi nhỏ, trong suốt đều tăm tắp, khi nấu lên lại trở màu trắng tinh, giòn dai và thơm thơm mùi gạo. Và không thể thiếu nguyên liệu chính là cá quả, cá rô đồng hoặc cá trắm, nhất là cá trắm đen. Một quá trình đặc biệt làm nên hương vị rất riêng của món canh cá Hưng Yên chính là nồi nước dùng và các loại gia vị, rau thơm đi kèm. Nước dùng được chế biến từ phần đầu và xương cá ninh nhừ, thêm chút gia vị là có ngay nồi nước dùng trong, ngọt và đậm đà.
Ổi Bo
Khi ăn ổi Bo không nên cắt miếng (Ảnh sưu tầm)
Cùng với bánh Cáy làng Nguyễn, ổi Bo từ lâu đã trở thành đặc sản của người Hưng Yên, được nhiều người biết đến bởi nó hội tụ những tinh túy của đất và người Hưng Yên. Quả ổi Bo có nhiều loại: Có loại quả nhìn giống như quả cam dẹt, có loại quả lại như quả lê, lại có quả giống như quả găng có năm múi và năm khe. Nhưng chất lượng và vị ngon của giống ổi Bo chính hiệu là loại quả được trồng trên đất nguyên thổ của làng Bo với chất đất phù sa nhẹ tốt, mỗi năm chỉ cho thu hoạch một vụ vào tháng 7 hằng năm.
Bánh gai Đại Đồng
Bánh gai Đại Đồng (Ảnh sưu tầm)
Trước kia, chưa hẳn bánh gai Đại Đồng đặc sản Hưng Yên đã là một loại hàng hóa như bây giờ, người dân miền quê này làm bánh chỉ vào dịp Tết. Trước hết là thờ cúng tổ tiên, sau mới thưởng thức trong ngày xuân hoặc dùng làm quà thăm thú bạn bè nơi xa. Nguyên liệu để làm một chiếc bánh gai là những sản phẩm đồng quê rất sẵn có như lá cây gai, gao nếp, vừng, lạc, đỗ xanh, mứt bí đao, cùi dừa, đường kính, mỡ thịt lợn, hạt sen, dầu chuối…
Nộm sứa Thái Thụy
Nộm sứa Thái Thụy là món đặc sản nức tiếng của biển Hưng Yên (Ảnh sưu tầm)
Nộm sứa là món ăn mát, giải nhiệt nếu ai đã từng một lần ăn nộm sứa Thái Thụy vào mùa hè chắc hẳn còn lưu giữ mãi hương vị thanh mát của món hải sản đặc trưng của vùng quê này. Sứa là một lớp nhuyễn thể, thân mềm, sống ở môi trường nước, là động vật thuộc loại xoang trường cùng họ với san hô. Thân sứa trong suốt như thủy tinh, mềm mại như chiếc lá, mang đủ mầu sắc, từ xanh dương, hồng cho đến tim tím… Mùa hè là mùa sứa nổi, nhiều nhất là vào tháng 4, tháng 5. Nộm sứa ngon là sau khi chế biến phải giòn, thơm và khô.
Bánh giò Bến Hiệp
Bánh giò ở đây làm bằng bột tẻ nên ăn không thấy ngán (Ảnh sưu tầm)
Bánh giò ở đây làm bằng bột tẻ ăn không thấy ngán, ăn lót dạ được, ăn thay cơm, ăn đổi bữa được, từ đời nảo đời nào truyền đến tận nay. Bánh được làm bằng bột tẻ lọc, thịt nạc vai dùng chế biến nhân có kèm mộc nhĩ, hành khô, hạt tiêu, nước mắm, muối…và bánh này được luộc từ 45 đến 60 phút. Bánh giò có hình dài nhô cao như hình bàn tay úp khum khum với các ngón tay sát nhau, gói bằng lá chuối.
Bún bung hoa chuối
Bún bung ăn kèm với rau muống, rau thơm và hoa chuối thái nhỏ trộn dấm (Ảnh sưu tầm)
Bát bún bung toát lên vẻ rất đỗi mộc mạc của hồn quê với những sợi bún trắng hòa quyện trong lớp nước dùng hơi đục, bên trên là vài miếng cà chua đỏ, thịt chân giò trắng phau, thịt móng giò săn, chả xương sông thơm lừng… tất cả hòa quyện lại hấp dẫn, thu hút. Món này có hương vị ngọt ngào của nước dùng, béo ngậy từ thịt chân giò mà không ngấy, lại thêm độ chát nhẹ nhàng với hoa chuối và mùi thơm lá xương sông.
Bánh nghệ
Sở dĩ gọi là “Bánh nghệ” vì thành phần chính của bánh là gạo tẻ và nghệ tươi (Ảnh sưu tầm)
Chẳng biết từ bao giờ, bánh nghệ đã trở thành món ăn dân dã ở mỗi phiên chợ quê tại các xã Hưng Phú, Nam Tiền Hải, Nam Cường… Không giống như bánh chưng, bánh nếp, bánh mật, bánh rán, là những loại bánh được làm từ gạo nếp, bánh nghệ được làm từ gạo tẻ nên ăn không bị ngán hay nóng ruột. Người dân Tiền Hải cho rằng, ăn bánh nghệ giúp kích thích tiêu hóa, tốt cho phát triển thể chất, vì không dùng chất bảo quản, phẩm màu.
Canh don, don xào lá lốt
Don là loài thuộc họ nhuyễn thể có vỏ như trai hến (Ảnh sưu tầm)
Thịt don mềm ngọt tự nhiên, lá lốt thơm kết hợp với phồng tôm giòn rất ngon. Đây là một món ăn dân dã, được yêu thích ở tỉnh Hưng Yên. Con don (con dắt) sống vùi trong cát, vỏ mỏng, hình tựa quả trám nhưng chỉ dài 1-2 cm. Don sống khá nhiều ở vùng Tiền Hải cũ. Mang tính hàn, vị ngọt tự nhiên, don có tác dụng lợi tiểu, thông khí, mát gan, giải nhiệt rất tốt.
Xem thêm: Kinh nghiệm đi “biển vô cực” Hưng Yên chi tiết nhất





































































































Discussion about this post