Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, được hình thành từ việc sáp nhập hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Tỉnh nằm ở vị trí trung chuyển giữa khu vực Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 155km tuỳ tuyến đường sắt hoặc đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu, phía nam giáp tỉnh Phú Thọ, và phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với đường biên giới dài hơn 200 km. Khu vực này là nơi cư trú lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số, với dấu tích cư trú của con người có niên đại hơn một vạn năm. Hãy cùng RuudNguyen.com khám phá những điểm đến đặc sắc của Lào Cai – từ Sa Pa, Y Tý, Bắc Hà đến Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ – nơi hội tụ cảnh sắc hùng vĩ và văn hoá vùng cao đặc trưng.
Giới thiệu về Lào Cai
Sau khi sáp nhập hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái năm 2025, tỉnh Lào Cai mới trở thành một trong những vùng đất rộng lớn, giàu tiềm năng và đặc sắc bậc nhất miền Bắc Việt Nam. Với diện tích 13.256,92 km², dân số 1.778.785 người, Lào Cai hiện đứng thứ 8 cả nước về diện tích và thứ 26 về dân số. Trung tâm hành chính của tỉnh đặt tại phường Yên Bái, trên trục kết nối cao tốc Nội Bài – Lào Cai thuận tiện cho giao thương và du lịch.
Về địa lý, Lào Cai nằm ở vị trí trung chuyển giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc, tiếp giáp với nhiều địa phương trọng điểm: phía đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía tây giáp Sơn La và Lai Châu, phía nam giáp Phú Thọ, và phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với đường biên giới dài hơn 200 km. Nhờ địa hình đa dạng từ cao nguyên đá, đồi núi, thung lũng đến đồng bằng ven sông, Lào Cai hội tụ cả những thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ như Fansipan, Sa Pa, Y Tý, lẫn những miền văn hóa trầm mặc của Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ, Trạm Tấu – từng thuộc Yên Bái trước đây.
Khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường (Ảnh sưu tầm)
Tên gọi “Lào Cai” có lịch sử đặc biệt. Cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp bắt đầu thám hiểm vùng núi Bắc Kỳ, họ phát hiện một khu chợ sầm uất ở đầu cầu Cốc Lếu – nơi giao thương với người Hoa và người H’Mông. Trong tiếng H’Mông, chợ cũ được gọi là “Lao Cai”. Năm 1879, nhà thám hiểm Jean Dupuis đã ghi trên bản đồ Bắc Kỳ dòng chữ “Lao-kai, résidence du Chef des Pavillone noirs” – tức “Lao-kai, nơi ở của thủ lĩnh quân Cờ Đen”. Từ đó, cái tên “Lao Kay” được người Pháp sử dụng phổ biến trong văn bản và con dấu hành chính. Sau năm 1950, Việt Nam thống nhất cách viết thành “Lào Cai”, và tên gọi này được giữ đến nay.
Ngày nay, Lào Cai sau sáp nhập là vùng đất của sự giao thoa – giữa thiên nhiên hùng vĩ và bản sắc văn hóa đa dân tộc, giữa di sản lịch sử và sức sống hiện đại. Với hệ thống giao thông thuận tiện, khí hậu ôn hòa, cùng chuỗi điểm đến nổi tiếng, tỉnh Lào Cai đang trở thành trung tâm du lịch – văn hóa – kinh tế mới của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Nên đi du lịch Lào Cai khi nào?
Với địa hình trải dài từ đỉnh Fansipan hùng vĩ đến những thung lũng ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ, Lào Cai sau sáp nhập Yên Bái có khí hậu đa dạng, chia thành bốn mùa rõ rệt và mỗi mùa đều mang nét cuốn hút riêng. Tuy nhiên, thời điểm lý tưởng nhất để khám phá Lào Cai là từ tháng 9 – 11 và tháng 3 – 5, khi tiết trời mát mẻ, khô ráo, cảnh sắc thiên nhiên rực rỡ và thuận lợi cho việc di chuyển.
Từ tháng 1 – 3, miền núi Lào Cai khoác lên mình sắc xuân tươi mới. Đây là mùa lễ hội đặc trưng của các dân tộc H’Mông, Dao, Tày, Thái… với những trò chơi truyền thống như ném pao, kéo co, đua ngựa, đua mảng, mang đậm sắc màu vùng cao. Không khí se lạnh, làn sương mờ buổi sớm và hoa mận, hoa đào nở rộ khiến du khách có cảm giác như đang lạc vào bức tranh mùa xuân phương Bắc.
Tháng 4 – 6 là thời điểm bắt đầu mùa nước đổ. Những cơn mưa đầu hạ khiến ruộng bậc thang lấp lánh ánh bạc, tạo nên khung cảnh huyền ảo ở Sa Pa, Bát Xát, Mù Cang Chải hay Trạm Tấu. Dù đôi khi có mưa lớn gây khó khăn cho việc di chuyển, nhưng đây lại là “mùa vàng” cho những ai yêu thích nhiếp ảnh và muốn ghi lại vẻ đẹp độc đáo của vùng cao Tây Bắc.
Tháng 9 – 10 là mùa lúa chín, cũng là thời điểm đẹp nhất trong năm để du lịch Lào Cai. Toàn bộ các thung lũng từ Sa Pa, Y Tý, Bắc Hà đến Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ đều ngập trong sắc vàng rực rỡ của những cánh đồng bậc thang, tạo nên khung cảnh kỳ vĩ, nên thơ mà hiếm nơi nào có được. Đây cũng là mùa cao điểm thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Tháng 12 – 2 là mùa đông lạnh, đặc biệt ở vùng cao như Sa Pa có thể xuất hiện băng giá, thậm chí tuyết rơi – một trải nghiệm hiếm có tại Việt Nam. Còn ở khu vực Nghĩa Lộ, đây lại là “mùa săn mây” lý tưởng, khi những thung lũng chìm trong mây trắng bồng bềnh, tạo nên bức tranh huyền ảo đầy chất thơ.
Tóm lại, dù bạn muốn săn tuyết ở Sa Pa, ngắm ruộng bậc thang vàng óng ở Mù Cang Chải, hay hòa mình vào lễ hội rực rỡ sắc màu vùng cao, Lào Cai mới luôn có một mùa dành riêng cho bạn. Mỗi thời điểm đều là một hành trình cảm xúc khác nhau, chỉ cần chọn đúng “mùa của lòng mình”, bạn sẽ thấy nơi đây đáng nhớ đến nhường nào.
Phương tiện đi đến Lào Cai
Du lịch Lào Cai bằng tàu hỏa
Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai dài gần 300 km là hành trình du lịch cổ điển và đẹp bậc nhất miền Bắc, nay hoàn toàn nằm trong tỉnh Lào Cai mới sau khi sáp nhập với Yên Bái. Tàu chạy qua các ga lớn như Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, giúp du khách dễ dàng khám phá các điểm đến nổi tiếng như Sa Pa, Bắc Hà, Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ.
Thời gian di chuyển khoảng 7 – 9 tiếng, có cả tàu đêm với khoang giường nằm tiện nghi. Ga Yên Bái là điểm dừng trung chuyển đi Mù Cang Chải, còn ga Lào Cai là cửa ngõ lên Sa Pa. Hành trình bằng tàu hỏa không chỉ thuận tiện, tiết kiệm mà còn là cơ hội chiêm ngưỡng cảnh núi non, sông suối và ruộng bậc thang tuyệt đẹp dọc tuyến đường – một trải nghiệm chậm rãi, lãng mạn và đậm chất Tây Bắc.
Du lịch Lào Cai bằng ô tô
Tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai trở thành “xương sống” giao thông của toàn tỉnh mới. Đây cũng là cung đường du lịch đẹp và thuận tiện nhất để du khách từ Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ lên vùng sơn cước Lào Cai.
Từ Hà Nội đến trung tâm tỉnh Lào Cai (phường Yên Bái), bạn chỉ mất khoảng 3,5 – 4 tiếng theo cao tốc Nội Bài – Lào Cai, dài hơn 260km. Tuyến này nối liền với cao tốc Hà Nội – Lào Cai – Sa Pa, cho phép xe di chuyển liên tục đến tận Sa Pa hoặc Bát Xát mà không cần qua quốc lộ cũ.
Các đoạn rẽ chính:
-
Đoạn Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải: rẽ tại nút giao IC12, sau đó theo QL32 – cung đường nổi tiếng uốn lượn giữa ruộng bậc thang.
-
Đoạn Lào Cai – Sa Pa: đi thẳng cao tốc đến nút IC17, sau đó theo QL4D lên trung tâm Sa Pa, thời gian chỉ khoảng 45–60 phút.
Phương tiện và lựa chọn di chuyển
-
Ô tô cá nhân: thuận tiện nhất nếu bạn thích chủ động dừng ngắm cảnh. Đường đẹp, dễ đi, có nhiều trạm dừng chân, cây xăng và quán ăn dọc cao tốc.
-
Xe khách chất lượng cao: xuất phát từ Bến xe Mỹ Đình, Giáp Bát, hoặc Nước Ngầm, khởi hành liên tục từ 5h sáng đến 23h đêm.
-
Xe limousine cao cấp: chạy thẳng Hà Nội – Sa Pa hoặc Hà Nội – Nghĩa Lộ trong khoảng 4,5 – 5 tiếng, có ghế ngả, nước uống, wifi.
Kinh nghiệm khi đi ô tô
-
Nên khởi hành sáng sớm, vừa tránh tắc đường, vừa có thể đến nơi kịp check-in hoàng hôn vùng cao.
-
Dừng nghỉ tại phường Yên Bái là gợi ý hay: bạn có thể thưởng thức đặc sản xôi ngũ sắc Tú Lệ trước khi tiếp tục lên Sa Pa.
-
Nếu lái xe cá nhân, nên kiểm tra phanh và nhiên liệu kỹ trước khi rẽ vào các cung đèo như Ô Quy Hồ hay Khau Phạ – những điểm ngắm cảnh hùng vĩ nhưng dốc cao, quanh co.
Du lịch Lào Cai bằng xe máy
Nếu muốn kết hợp đi thêm nhiều địa điểm khác như Mù Cang Chải (Ảnh sưu tầm)
Với những ai yêu thích tự do, thích cảm giác làm chủ tay lái và muốn ngắm trọn vẻ đẹp của núi rừng, thì du lịch Lào Cai bằng xe máy là một trải nghiệm không thể bỏ lỡ. Sau khi Lào Cai và Yên Bái sáp nhập, vùng đất này trở thành “thiên đường phượt” đúng nghĩa – nơi bạn có thể chạy xe qua những con đèo huyền thoại như Ô Quy Hồ, Khau Phạ, Mã Pí Lèng nhỏ (Y Tý) hay men theo sông Hồng, sông Chảy giữa mây trời bát ngát.
Cung đường di chuyển phổ biến
Từ Hà Nội, bạn có thể lựa chọn hai tuyến chính:
-
Tuyến cao tốc song song Quốc lộ 70: theo hướng Sơn Tây – Đoan Hùng – Tuyên Quang – Lào Cai, cung đường đẹp, ít xe tải, dễ đi, phù hợp cả cho người mới đi xa.
-
Tuyến Quốc lộ 32: theo hướng Hà Nội – Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải – Than Uyên – Sa Pa – Lào Cai. Đây là tuyến đường đẹp nhất và nổi tiếng nhất Tây Bắc, nhưng cũng nhiều đèo dốc, phù hợp với dân phượt có kinh nghiệm.
Thời gian di chuyển bằng xe máy từ Hà Nội đến trung tâm Lào Cai khoảng 8–10 tiếng, tùy cung đường và điểm dừng.
Những cung đường đáng trải nghiệm
-
Mù Cang Chải – Sa Pa: chạy xuyên giữa những thửa ruộng bậc thang bậc nhất Việt Nam, mùa lúa chín vàng rực rỡ (tháng 9–10).
-
Y Tý – A Lù – Bát Xát: cung đường sát biên giới, cao trên 2.000m, mây giăng kín lối, phong cảnh kỳ vĩ và hoang sơ.
-
Nghĩa Lộ – Tú Lệ – Khau Phạ: nơi hội tụ của những con đèo uốn lượn giữa rừng già và bản làng người Thái.
Đi xe máy đến Lào Cai (mới) không chỉ là chuyến đi, mà là hành trình cảm xúc – nơi mỗi khúc cua mở ra một khung cảnh mới: sương sớm trên Sa Pa, nắng vàng ở Mù Cang Chải, mây trắng phủ kín Y Tý. Cảm giác vượt đèo, dừng chân bên bản làng, trò chuyện cùng người dân tộc, sẽ khiến bạn hiểu vì sao Tây Bắc luôn khiến người ta muốn quay lại.
Lưu trú tại Lào Cai
Lưu trú homestay đang là một sản phẩm du lịch độc đáo của du lịch Lào Cai (Ảnh sưu tầm)
Sau khi Lào Cai và Yên Bái sáp nhập năm 2025, tỉnh Lào Cai mới trở thành trung tâm du lịch – nghỉ dưỡng lớn nhất vùng Tây Bắc, với hệ thống lưu trú trải dài từ khu vực hành chính phường Yên Bái đến Sa Pa, Nghĩa Lộ, Mù Cang Chải và Bắc Hà. Dù bạn muốn nghỉ ngơi sang trọng hay tìm trải nghiệm mộc mạc giữa bản làng, nơi đây đều có lựa chọn phù hợp.
Khu vực phường Yên Bái – trung tâm hành chính mới của tỉnh – tập trung nhiều khách sạn tầm trung và cao cấp, thuận tiện cho du khách công tác hoặc dừng chân giữa hành trình khám phá.
Phía bắc tỉnh, Sa Pa vẫn là “thủ phủ du lịch” với hàng loạt resort cao cấp và khu nghỉ dưỡng sinh thái, kết hợp hoàn hảo giữa tiện nghi hiện đại và cảnh sắc mây núi hùng vĩ.
Trong khi đó, khu vực Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải – Trạm Tấu mang đến trải nghiệm gần gũi hơn với thiên nhiên. Những eco-lodge và homestay cho phép bạn thức dậy giữa ruộng bậc thang, nghe tiếng gà gáy và sương tan trên mái lá.
Vào mùa lúa chín (tháng 9–10) hoặc mùa hoa xuân (tháng 2–3), các bạn nên đặt phòng sớm ít nhất 1–2 tuần để có view đẹp và giá tốt.
Dù bạn chọn nghỉ dưỡng giữa mây trời Sa Pa, thư giãn bên suối khoáng Tú Lệ, hay ở homestay bình yên giữa Mù Cang Chải, hệ thống lưu trú tại Lào Cai sau sáp nhập luôn khiến du khách cảm nhận được sự hòa quyện giữa thiên nhiên, văn hóa và con người Tây Bắc.
Các địa điểm du lịch ở Sapa
Nằm ở độ cao hơn 1.500 m so với mực nước biển, Sa Pa là thị xã du lịch nổi tiếng bậc nhất của tỉnh Lào Cai (mới), được mệnh danh là “thành phố trong mây”. Nơi đây gây ấn tượng bởi khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh quan hùng vĩ với dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững và đỉnh Fansipan – nóc nhà Đông Dương.
Xem thêm: Các địa điểm du lịch Sa Pa
Nhà thờ đá Sa Pa
Nhà thờ Sa Pa toạ lạc trên một vị trí đắc địa với phía sau là núi Hàm Rồng che chắn, phía trước là khu đất rộng, bằng phẳng, có thể phát triển nhiều công trình văn hóa phục vụ cho các hoạt động xã hội. Nhà thờ đá vùng này được xây dựng vào khoảng những năm 30 của thế kỉ 20.
Nhà thờ đá Sa Pa được người Pháp xây dựng từ những năm đầu của thế kỷ 20 (Ảnh sưu tầm)
Nhà thờ này được chính bàn tay của những kiến trúc sư người Pháp thiết kế và xây dựng. Công trình này là một trong số ít những dấu ấn của người Pháp còn tồn tại một cách vẹn toàn cho tới ngày hôm nay trên mảnh đất hành trình.
Núi Hàm Rồng
Nằm sát phường Sa Pa, với độ cao tầm 2000m, quanh núi Hàm Rồng có nhiều kiểu núi khác nhau. Nơi đây được ví như một Sa Pa thu nhỏ, bởi du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp hội tụ của thiên nhiên, văn hóa và con người của thị trấn vùng cao theo từng bước chân từ cổng Hàm Rồng lên núi.
Vườn hoa trên núi Hàm Rồng (Ảnh sưu tầm)
Thời gian có biển mây: Từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm. Du khách nếu có thời gian và cơ hội nên đi Sa Pa mùa này để có những khoảnh khắc mây trời tuyệt nhất nhé.
Bản Cát Cát
Bản Cát Cát nằm trên địa bàn xã San Sả Hồ, phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Đây là nơi sinh sống tập trung của đồng bào dân tộc H’Mông, nổi tiếng với những ngôi nhà gỗ lợp ván pơ-mu, guồng nước khổng lồ, khung cửi dệt thổ cẩm và khung cảnh núi non hùng vĩ. Với vẻ đẹp nguyên sơ và nét văn hóa đặc sắc còn được gìn giữ trọn vẹn, Cát Cát luôn nằm trong top điểm đến không thể bỏ qua khi du lịch Sa Pa, nơi du khách có thể vừa hòa mình vào cuộc sống bản địa, vừa chiêm ngưỡng cảnh sắc mây trời đặc trưng của vùng cao Tây Bắc.
Cát Cát là một bản nhỏ chỉ cách trung tâm thị trấn Sa Pa khoảng 2km (Ảnh sưu tầm)
Nằm ngay dưới chân núi Hoàng Liên Sơn, bản Cát Cát ẩn mình, e ấp dưới sự bao bọc của mẹ thiên nhiên. Cả một màu xanh của đồng ruộng, núi đồi bao trùm lên khắp bản, xen lẫn vào đó là những ngôi nhà nhỏ bé của những người dân sinh sống. Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh thiên nhiên tràn đầy màu sắc mà cũng không kém phần thơ mộng.
Gần 80 hộ dân trong bản hầu hết nằm dọc theo con đường bậc thang lát đá giữa bản, một số nằm rải rác trên các sườn núi. Ði khoảng mấy trăm mét bậc thang là đến trung tâm Cát Cát, nơi hội tụ của ba dòng suối ngày đêm rì rào là suối Tiên Sa, suối Vàng và suối Bạc cùng ngọn thác Cát Cát (còn gọi là thác Tiên Sa) ầm ầm, tung bọt trắng xoá. Bên cạnh thác có hai chiếc cầu treo là cầu Si và cầu A Lứ thu hút rất đông du khách ngắm cảnh và chụp hình lưu niệm.
Bản Tả Phìn
Bản Tả Phìn nằm cách trung tâm phường Sapa khoảng hơn 12km. Từ trung tâm Sapa, du khách cần đi ngược trở lại quốc lộ 4D khoảng 4km, rồi rẽ trái ngược lên Tả Phìn. Đường đi không khó, hiện ô tô con đã có thể vào bản. Thích cảm giác phiêu lưu, du khách có thể thuê xe máy từ Sapa để đi Tả Phìn.
Tả Phìn là bản của người Dao Đỏ (Ảnh sưu tầm)
Tuy khoảng cách không xa nhưng cung đường có nhiều chỗ dốc, đường sói mòn nên sỏi đá lộ hết cả ra, đi không được êm băng băng. May mà đường từ Thị trấn Sapa đến Tả Phìn không tấp nập đông đúc nên cũng đỡ. Đi nửa đường sẽ thấy hai bên là những thửa ruộng bậc thang ngăn nắp, đẹp đẽ.
Bản Lao Chải
Cũng giống như bản Cát Cát, Lao Chải – Tả Van là nơi sinh sống của người dân tộc thiểu số, cách trung tâm thị trấn Sapa khoảng 7km. Nếu đi từ trung tâm thị trấn Sapa, quý khách đi dọc theo phố Cầu Mây, sau đó rẽ sang phố Mường Hoa, ngay sau đi hết thị trấn Sapa, bạn sẽ gặp trạm soát vé, nên bạn nhớ mua vé trước nếu có người nước ngoài đi cùng, hoặc bạn cũng có thể mua vé thăm quan tại quầy soát vé, giá vé xem ở dưới nhé.
Những thửa ruộng bậc thang ở Lao Chải (Ảnh sưu tầm)
Theo lộ trình, các bạn nên đi Lao Chải trước, vì lối xuống ở đầu bản Lao Chải có độ dốc khá cao, sẽ khiến bạn và nhất là người già đi khó nếu bạn đi ngược từ Tả Van về Lao Chải!
Tới với bản Lao Chải – Tả Van, du khách sẽ bị bất ngờ bởi không gian yên tĩnh và bình yên, trái ngược hoàn toàn với phường Sapa. Ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ nhất với du khách là các thửa ruộng bậc thang canh tác lúa và hoa màu rộng hàng trăm héc – ta trải khắp các sườn đồi, kéo dài đến cửa nhà. Những thửa ruộng bậc thang này tạo cho khách du lịch đến đây cảm giác như Lao Chải được nối liền với các dãy núi xung quanh, và kéo dài cho tới tận trời cao.
Nếu đi vào đúng mùa gặt vào khoảng tháng 4 hoặc tháng 9, du khách sẽ có cơ hội ngắm bức tranh phong cảnh khổng lồ tuyệt đẹp của vùng núi với những cánh đồng lúa chín vàng rực trên các thửa ruộng bậc thang. Thời điểm mà người dân bản địa vui tươi và ấm cúng nhất là vào mùa lúa chín, khi hương lúa chín hòa quyện lan tỏa vào không gian khi những con gió thoảng qua, làm cho du khách ngây ngất với những bậc lúa chín vàng và vàng thôi thúc ý muốn trải nghiệm để khám phá cuộc sống của những con người nơi đây.
Bản Tả Van
Từ trung tâm phường Sa Pa, xuôi theo con đường mòn uốn lượn trên lưng chừng núi khoảng 10km, là đến với xã Tả Van. Không có địa thể núi non hùng vĩ, nhưng Tả Van sở hữu những cánh đồng lúa bạt ngàn mướt mát, những căn nhà tranh vách đất mộc mạc, những con đường đã nhỏ che lấp bởi bụi cây lưa thưa,…
Một góc Tả Van (Ảnh sưu tầm)
Tất cả hòa làm một tạo thành một bức tranh thanh bình, dung dị. Đến với làng Tả Van Giáy, ngôi làng cổ nhất Tả Van, nằm gọn trong địa phận của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên; bạn sẽ được hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, lắng nghe âm thanh của từng con suối cuồn cuộn, tiếng chim rừng ríu rít phía xa hay khám phá những nét văn hóa truyền thống đặc sắc.
Tham quan những ngôi nhà nhỏ xíu nép mình bên sườn núi sườn đồi xuất hiện cách đây trăm năm, nhấp một ngụm rượu ấm lòng và trò chuyện cùng những người dân bản xứ về cuộc sống hằng ngày; mới thấy Tả Van sao mà đáng yêu đến thế, hiền hòa đến thế.
Cầu Mây
Cầu Mây đã trở thành cái tên rất đỗi quen thuộc với du khách thập phương khi đến với Sa Pa, bởi tên gọi của cây cầu này đã được đặt cho nhiều nhà hàng, khách sạn và thậm chí là cả một con phố ở phường Sa Pa. Hàng năm, Cầu Mây thu hút rất đông du khách trong nước và quốc tế.
Cầu Mây cũ ở Sa Pa, nơi đây giờ chỉ được sử dụng cho mục đích du lịch (Ảnh sưu tầm)
Nằm cách trung tâm phường Sa Pa khoảng 17km về phía Đông Nam, Cầu Mây là một cây cầu treo nổi tiếng bắc qua dòng suối Mường Hoa chảy từ thung lũng xuống. Được tạo thành từ những sợi dây mây kết nối vững chắc, sàn cầu được làm bằng các ván gỗ ghép lại với nhau, mỗi ván cách nhau tới 20cm.
Đèo Ô Quy Hồ
Đèo Ô Quy Hồ hay Đèo Hoàng Liên Sơn là một trong số những cung đường đèo dài, hiểm trở và hùng vĩ vào bậc nhất ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Nằm trên tuyến quốc lộ 4D cắt ngang dãy Hoàng Liên Sơn, đèo nối liền hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu với đỉnh đèo cũng chính là ranh giới giữa hai tỉnh. Do đèo vượt qua dãy núi Hoàng Liên Sơn, hoặc đèo Mây do trên đỉnh đèo quanh năm mây phủ, tuy nhiên du khách đến Tây Bắc Việt Nam thường biết đến đèo dưới tên Ô Quy Hồ.
Hoàng hôn trên đèo Ô Quy Hồ (Ảnh sưu tầm)
Tương truyền ở vùng núi này, trước hay hiện diện một loài chim có tiếng kêu da diết, gắn với huyền thoại về câu chuyện tình yêu không thành của một đôi trai gái. Từ đó, theo thời gian chính tiếng kêu ô quy hồ của loài chim ấy đã được đặt thành tên cho con đèo hoang dại ở độ cao gần 2000m này.
Thác Bạc
Mất khoảng 30 phút bằng xe máy hoặc xe buýt, du khách có thể đến thăm một trong số ít những thác nước đẹp nhất ở Sa Pa nói riêng và các thác nước đẹp nhất Việt Nam nói chung. Theo thống kê, hầu như tất cả các du khách khi tham gia tour du lịch Sa Pa, Lào Cai đều không bỏ lỡ điểm du lịch thác Bạc.
Thác Bạc nằm trên đèo Ô Quy Hồ, nối giữa Lào Cai và Lai Châu (Ảnh sưu tầm)
Nằm ngay dưới chân đèo Ô Quý Hồ, Thác Bạc là một trong 10 thác nước đẹp nhất Lào Cai, luôn được giới trẻ tìm đến khám phá. Vẻ đẹp của đường đèo Ô Quý Hồ từ lâu đã thu hút rất đông du khách quốc tế tới chiêm ngưỡng và nơi đây cũng là nguồn cảm xúc sáng tạo của nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng của Việt Nam như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh, Nguyễn Thành Long, Võ An Ninh, Vĩnh Cát, Ma Văn Kháng, Lò Ngân Sủn…
Cách trung tâm phường Sa Pa khoảng 15km về phía tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên, Thác Bạc nằm ở xã Sán Xả Hồ, phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Đường vào thác khá thuận tiện vì nằm ngay cạnh quốc lộ 4D, đường đi Lai Châu.
Nóc nhà Đông Dương Fanxipan
Phan Xi Păng hay còn gọi Fansipan là ngọn núi cao nhất của bán đảo Đông Dương (3.143 m), nằm ở trung tâm dãy Hoàng Liên Sơn. Cách trung tâm Sapa 9 km về phía Tây Nam. Để chinh phục đỉnh Phan Xi Păng trước đây bạn phải mất tới 5 đến 6 ngày thì bây giờ khoảng thời gian đó rút ngắn chỉ còn khoảng 2 đến 3 ngày. Để có thể tham gia hành trình này bạn cần phải có một sức khỏe thật tốt, chuẩn bị đầy đủ các vật dụng thiết yếu và yếu tố không thể thiếu nữa là người dân đường.
Nóc nhà Đông Dương trước khi có cáp treo (Ảnh sưu tầm)
Ngày nay để chinh phục đỉnh Fansipan du khách có hai lựa chọn: Một là tham gia các tour leo bộ, loại hình thường dành cho các bạn trẻ thể hiện sự khát khao, bản lĩnh để thử thách bản thân mình, hoặc những du khách thích sự khám phá mạo hiểm. Để tham gia được du khách thường phải mất 2 ngày 1 đêm, và sự trợ giúp của người dân bản địa đi cùng cũng như phải có sự chuẩn bị tốt về sức khỏe và bản lĩnh.
Lựa chọn thứ hai là với sự ra đời của hệ thông cáp treo Fansipan – Sun World Fansipan Legend được mở cửa và khai trương từ tháng 2 năm 2016 đã biến ước mơ của nhiều người thành hiện thực, chinh phục “Nóc nhà Đông Dương” chưa bao giờ lại dễ dàng như vậy. Loại hình này có thể dành cho mọi lứa tuổi từ người già cho đến trẻ em, chỉ mất chưa đầy một tiếng du khách đã có thể chinh phục đỉnh Fansipan nhờ hệ thống cáp treo được chứng nhận 2 kỷ lục Guinness.
Địa điểm du lịch Bắc Hà
Nếu có dịp đến với núi rừng Lào Cai hẳn du khách không thể bỏ lỡ cơ hội thăm thú “cao nguyên trắng Bắc Hà” – điểm đến nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, núi non thơ mộng, hùng vĩ và người dân thân thiện, rất mến khách.
Chợ phiên Bắc Hà
Phiên chợ Bắc Hà hiện nằm tại xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai – sau khi sáp nhập toàn bộ thị trấn Bắc Hà cùng các xã Na Hối, Thải Giàng Phố, Bản Phố, Hoàng Thu Phố và Nậm Mòn thành một đơn vị hành chính mới mang tên xã Bắc Hà. Chợ cách trung tâm phường Yên Bái (thủ phủ hành chính của tỉnh Lào Cai mới) khoảng 65 km, nằm trên tuyến đường nối Sa Pa – Bắc Hà – Si Ma Cai, rất thuận tiện cho du khách di chuyển bằng ô tô, xe máy hoặc xe buýt.
Điểm đặc biệt của chợ Bắc Hà là chỉ họp một buổi duy nhất vào sáng Chủ Nhật hàng tuần, trở thành nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa và văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc H’Mông, Dao, Tày, Phù Lá… ở vùng cao Tây Bắc. Với không khí rực rỡ sắc màu, âm thanh nhộn nhịp và hương vị ẩm thực dân dã, đây là điểm dừng chân lý tưởng cho hành trình du lịch Sa Pa – Bắc Hà cuối tuần.
Những tấm vải sặc sỡ được bày bán sẵn ở chợ (Ảnh sưu tầm)
Tổng đoạn đường đi từ Sapa đến Bắc Hà (bằng xe máy hay ô tô) dài khoảng 135km, đi khoảng 4 tiếng là đến nơi. Đặc biệt, nếu đến chợ Bắc Hà vào dịp Tết lại càng đông vui, nhộn nhịp. Con đường đi chợ Bắc Hà khá dễ đi, an toàn, vì vậy du khách cũng sẽ không quá mệt mỏi khi đến nơi.
Chợ Bắc Hà thường kết thúc vào khoảng 2 giờ chiều. Sau đó, du khách có thể về lại Sapa hoặc nghỉ ngơi tại Bắc Hà một đêm, sau đó về lại địa phương của mình nếu như đã khám phá hết Sapa.
Dinh thự Hoàng A Tưởng
Khởi công năm 1914, song đến năm 1921, dinh Vua Mèo mới được hoàn thành. Chủ nhân của dinh là cha con Hoàng Yến Chao, Hoàng A Tưởng. Hoàng A Tưởng cũng là một thổ ti ở Bắc Hà cho đến ngày Lào Cai được giải phóng. Vì thế, ngoài cái tên dinh vua Mèo, người ta còn gọi đây là dinh Hoàng A Tưởng.
Bên ngoài dinh Hoàng A Tưởng (Ảnh sưu tầm)
Hàng trăm năm nay, người Bắc Hà (Lào Cai) xem dinh thự Hoàng A Tưởng vừa là niềm tự hào, nhưng cũng thắm đượm nỗi buồn. Tự hào khi cả một vùng cao nguyên rộng lớn toàn đá xám ngoét lại mọc lên một dinh thự tuyệt đẹp. Buồn, vì dinh thự đó đã “hút” bao nhiêu máu và nước mắt của một thời đã qua.
Từ trung tâm phường Lào Cai ngược lên hướng bắc khoảng 85km, qua những cung đường uốn cong khúc khuỷu như con bạch xà là đến xã Bắc Hà huyền thoại. Màu hoa đào quyện bên những xống váy mèo thơ mộng càng làm cho cao nguyên rực rỡ hơn. Bên nồi thắng cố chợ phiên, người ta rỉ tai nhau những câu chuyện về Hoàng A Tưởng…
Thung lũng hoa Thải Giàng Phố
Cách trung tâm xã Bắc Hà chừng hơn 3km là thung lũng hoa Thải Giàng Phố. Nơi này do một đơn vị tư nhân đầu tư xây dựng để phát triển cùng với hình thức du lịch sinh thái. Hoa Thải Giàng Phố mùa nào cũng nở. Nở xuyên suốt cả bốn mùa là phong lan. Từng nhành phong lan nơi núi đá cổng trời cùng về đây “họp mặt” với các loại phong lan mới du nhập.
Đây là một địa điểm rất tuyệt để có những bức ảnh siêu nghệ thuật (Ảnh sưu tầm)
Bên cạnh đó, vườn hoa Việt Tú còn có các loại hoa đường phố như cẩm tú cầu, tử la lan, cát tường, dạ yến thảo, ngọc trâm… Cùng với các giò lan rừng quyến rũ, mang đậm màu sắc hoang dại là các chậu hoa đường phố sặc sỡ sắc màu.
Thung lũng hoa Thải Giàng Phố mang vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng Tây Bắc nhưng vẫn du nhập những loài hoa, cách gieo trồng áp dụng theo tiêu chuẩn kỹ thuật của mảnh đất Sa Pa – Đà Lạt. Vườn hoa đã nghiên cứu, bảo tồn các giống lan rừng và trồng các loại lan lai để kinh doanh. Vì vậy, đây là điểm tham quan du lịch mới hấp dẫn khi du khách đến với Bắc Hà.
Địa điểm du lịch Simacai
Tam giác mạch
Những cánh đồng hoa tam giác mạch ở Lử Thẩn quy mô hơn ở Hà Giang (Ảnh sưu tầm)
Hoa tam giác mạch được trồng chủ yếu tại các thung lũng cao thuộc xã Tả Củ Tỷ và xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai. Mỗi độ cuối thu (tháng 10–12), nơi đây lại khoác lên mình tấm áo hồng tím trải dài khắp triền núi, rực rỡ giữa sương mờ Tây Bắc. Du khách đến Si Ma Cai không chỉ được chiêm ngưỡng biển hoa tam giác mạch mênh mông, mà còn có thể khám phá bản làng người H’Mông, thưởng thức đặc sản vùng cao và chụp những bức ảnh đầy chất thơ trên nền núi non hùng vĩ.
Chợ trâu Cán Cấu
Chợ trâu Cán Cấu, Si Ma Cai (Ảnh sưu tầm)
Mỗi phiên chợ, hàng trăm con trâu từ khắp bản vùng cao đổ về, nhiều nhất là khu vực Bắc Hà, Mường Khương và cả Xín Mần (Hà Giang). Từ trung tâm xã Bắc Hà, theo tỉnh lộ 153 – tuyến chính nối vùng Bắc Hà với Si Ma Cai – đi khoảng 30 km là tới chợ Cán Cấu, nay thuộc xã Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (sau sáp nhập 2025). Khu chợ nằm giữa không gian ruộng bậc thang tầng tầng lớp lớp bám sườn núi; xa xa là núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, trùng điệp ngút tầm mắt – phông nền hoàn hảo cho một trong những phiên chợ trâu nổi tiếng nhất Lào Cai.
Các phiên chợ ở Si Mai Cai
Bất kỳ ai đã một lần ghé thăm chợ phiên ở Si Ma Cai hẳn không thể nào quên những nét đặc sắc văn hóa của các phiên chợ nơi đây. Với 05 phiên chợ được tổ chức trong tuần, du khách có thể lựa chọn địa điểm đến của từng phiên chợ để tham quan, giao lưu, mua bán. Chợ Sín Chéng – xã Sín Chéng họp vào thứ 4 hằng tuần; Chợ Cốc Cù – xã Sín Chéng họp vào thứ 5 hằng tuần; Chợ Lù Dì Sán – xã Si Ma Cai họp vào thứ 6 hằng tuần; Chợ Cán Cấu – xã Si Ma Cai họp vào thứ 7 hằng tuần; chợ trung tâm Si Ma Cai – xã Si Ma Cai họp vào chủ nhật hằng tuần.
Các địa điểm du lịch Bát Xát
Lũng Pô
Ngã 3 Lũng Pô này cũng là đường phân thủy giữa 2 nước Việt Nam – Trung Quốc (Ảnh sưu tầm)
Mốc 92 và các mốc dọc sông Hồng
Ngã 3 Lũng Pô là nơi có con sông Nguyên Giang (Trung Quốc) gặp dòng sông Lũng Pô hòa mình vào nhau và chảy vào Việt Nam với tên gọi sông Hồng. Từ phía thượng nguồn sông Hồng, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những bản làng tuyệt đẹp nằm bên những thửa ruộng nằm gối nhau xanh mướt một màu.
Mốc 92 nằm ở ngay ngã 3 sông, nơi sông Hồng chảy vào Việt Nam (Ảnh sưu tầm)
Cột mốc 92 gồm: mốc 96(1) nằm ở phía Việt Nam; mốc 92(2) và mốc 92(3) nằm trên bờ sông phía Trung Quốc. Từ trung tâm phường Lào Cai đến Lũng Pô khoảng 70km, đường núi quanh co, đèo dốc lên xuống điệp trùng là một thử thách cam go với nhiều phượt thủ đi xe máy.
A Lù
Người ở Bát Xát (Lào Cai) hay nói “Dốc A Lù – sương mù Ý Tý”, câu nói vừa khiến người phượt thủ luôn tò mò vừa như một cái nắm tay đầy ngập ngừng và e ngại.
A Lù là khu vực nằm dọc biên giới Việt – Trung theo suối Lũng Pô, nay thuộc xã Y Tý, tỉnh Lào Cai (sau sáp nhập 2025). Con đường trải nhựa vào A Lù hoàn thành năm 2012, nhờ vậy việc đi lại giữa xã Y Tý, khu vực Ngải Thầu và tuyến Lũng Pô – xã A Mú Sung thuận tiện hơn nhiều so với trước. Dọc cung đường chạy men theo suối Lũng Pô, du khách sẽ bắt gặp một vẻ đẹp đậm màu huyền sử của đất và người Tây Bắc: ruộng bậc thang, bản làng nép bên sườn núi và dãy Hoàng Liên sương phủ mờ xa.
Mùa lúa chín ở A Lù (Ảnh sưu tầm)
Cũng như nhiều xã vùng cao Bát Xát, địa hình A Lù bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao, thấp dần từ đông nam sang tây bắc, giao thông trong vùng vô cùng khó khăn, cách trở. Nhưng cũng chính điều này đã mang lại cho A Lù một vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, khoáng đạt. Những bậc thang lúa vàng bát ngát như muôn vàn những con sóng nối tiếp xô nhau tới đường chân trời, ôm ấp vài ngôi nhà cửa nẻo thanh sơ, đùa giỡn vạt váy thổ cẩm của người phụ nữ H’Mông. Khung cảnh như mơ như mộng ấy, âu chỉ có ở chốn núi rừng ban sơ, ngọt ngào này…
Y Tý
Mùa mây Y Tý (Ảnh sưu tầm)
Xã Y Tý nằm ở phía tây huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cách phường Lào Cai khoảng 100 km, là điểm đến tuyệt đẹp vào mùa lúa chín. Thời điểm ngắm “mùa vàng” Y Tý lý tưởng là hai tuần đầu tháng 9, sau đó bước vào mùa “săn mây”. Từ Hà Nội, bạn có thể đi xe khách hoặc tàu hỏa chạy đêm (khởi hành 20:00–22:00), sáng khoảng 6:00 tới ga Lào Cai (thuộc phường Lào Cai). Bạn có thể gửi kèm xe máy theo tàu hoặc thuê xe máy tại phường Lào Cai để lên Y Tý. Lưu ý, tuyến Hà Nội – Lào Cai và dịch vụ gửi xe máy cuối tuần rất đông, nên mua vé sớm (trước ít nhất 4 ngày).
Chợ Mường Hum
Chợ Mường Hum nằm kề bên là suối nước trong vắt, bên cạnh thung lũng nhỏ, được bao quanh bởi những dãy núi cao ngất trùng mây. Chợ phiên Mường Hum này là nơi giao lưu, gặp gỡ, mua bán và vui chơi của bà con các dân tộc H’Mông, Hà Nhì, Hoa, Dao Ðỏ, Giáy, Dao Tuyển, Hán và là nơi hò hẹn, tâm tình của đôi trai gái…
Chợ Mường Hum (Ảnh sưu tầm)
Bên trong chợ là cảnh tấp nập, ồn ào, xen lẫn giữa những bộ y phục sặc sỡ sắc màu của các thiếu nữ Mông là những bộ trang phục đầy màu sắc của người người Hà Nhì, của Dao Đỏ… Tất cả đã làm nên một buổi chợ phiên đậm đà bản sắc vùng cao.
Suối nước nóng Bản Mạc
Suối nước nóng bản Mạc là một điểm ít người biết (Ảnh sưu tầm)
Suối nước nóng Bản Mạc nằm cách trung tâm xã Trịnh Tường, tỉnh Lào Cai khoảng 3 km. Suối quanh năm tuôn chảy, là điểm dừng chân hấp dẫn của người dân địa phương và du khách. Dù ở gần khu dân cư và được phát hiện đã lâu, Bản Mạc vẫn khá hoang sơ: người dân chỉ khơi rộng dòng suối, kè bằng những tảng đá lớn, tạo thành “bể” tự nhiên đủ cho khoảng 10–15 người tắm thư giãn. Đường vào khu vực suối nước nóng là đường mòn, xe máy chỉ vào được những ngày nắng nên việc di chuyển khá khó khăn.
Địa điểm du lịch Mường Khương
Chợ Mường Khương

Cửa khẩu Mường Khương
Cửa khẩu Mường Khương (còn gọi cửa khẩu Tung Chung Phố) là cửa khẩu quốc gia nằm trên địa bàn xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Cửa khẩu này ở điểm cuối Quốc lộ 4D, thông thương với cửa khẩu Kiều Đầu tại thị trấn Vân Sơn, huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
Cao Sơn
Cách trung tâm xã Mường Khương khoảng 25 km, Cao Sơn nằm trên một cao nguyên cổ của tỉnh Lào Cai, địa hình chủ yếu là đồi núi với nhiệt độ trung bình 15–18ºC, quanh năm sương mù bao phủ. Đây là nơi sinh sống của đồng bào Mông, Dao, Phù Lá, Tu Dí, Bố Y…
Cùng đặc điểm khí hậu như phường Sa Pa, nhưng Cao Sơn vẫn giữ vẻ hoang sơ, mộc mạc, chưa ồn ào như các điểm du lịch phát triển. Đến với Cao Sơn là đến với không gian khoáng đạt của núi rừng, bạt ngàn sa mộc và những nương ngô chen đá; cảm giác oi bức mùa hè tan biến, nhường chỗ cho sự bình yên, mát dịu.
Hơn 100 năm trước, người Pháp đã đặt chân tới Cao Sơn và từng định chọn nơi đây làm khu nghỉ dưỡng cùng Sa Pa; dấu tích còn lại là đồi người Pháp ở La Pán Tẩn (nay thuộc xã Cao Sơn), cách trung tâm Cao Sơn khoảng 8 km. Dải cao nguyên này còn bảo tồn rừng già với nhiều loài gỗ, dược liệu quý; hệ thống hang động, sông suối đa dạng tạo nên vẻ đẹp say đắm.
Du khách có thể khám phá Cao Sơn bằng hai cách: (1) đi đường bộ từ phường Lào Cai tới xã Mường Khương, rồi vào xã Cao Sơn; (2) đi tuyến du lịch đường sông sông Chảy đoạn Bảo Nhai – Cốc Ly (nay đều thuộc xã Bảo Nhai), khám phá đôi bờ sông thơ mộng.
Địa điểm ở phường Lào Cai (TP Lào Cai cũ)
Cửa khẩu Quốc Tế Lào Cai
Cửa khẩu quốc tế Lào Cai – Hà Khẩu là một trong ba cửa khẩu quốc tế trọng yếu về giao lưu kinh tế – thương mại đường bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Khu cửa khẩu quốc tế Lào Cai thuộc Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Lào Cai, diện tích hơn 60 km². Sau sáp nhập 2025, phạm vi khu cửa khẩu được quản lý chủ yếu bởi phường Lào Cai và xã Cốc San.
Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai (Ảnh sưu tầm)
Cửa khẩu Quốc Tế Lào Cai cũng là nơi mà nhiều du khách khi đến du lịch Lào Cai không thể bỏ qua. Các bạn có thể làm thủ tục xin cấp giấy thông hành để qua Hà Khẩu (Trung Quốc) chơi với thủ tục nhanh gọn và chi phí hợp lý chỉ với CCCD.
Hà Khẩu
Được ngăn cách với phường Lào Cai, Việt Nam bởi một dòng sông nhỏ, chỉ cách cửa khẩu Hà Khẩu vài bước chân, Hà Khẩu (Hekou) là một huyện tự trị của Trung Quốc, thuộc phía Nam tỉnh Vân Nam.
Hà Khẩu (Ảnh sưu tầm)
Tuy chẳng thể so sánh với Bắc Kinh, Thượng Hải hay những tỉnh lớn khác ở Trung Quốc nhưng Hà Khẩu vẫn có sự tấp nập, sôi động của một vùng sát biên giới với những trung tâm thương mại, cửa hàng mua sắm lớn nhỏ.
Chợ Cốc Lếu
Chợ Cốc Lếu nằm ở trung tâm phường Lào Cai, đây là trung tâm thương mại lớn của tỉnh Lào Cai. Với tổng diện tích xây dựng hơn 8.00m2, 600 ki ốt lớn nhỏ, 700 hộ kinh doanh với 25 ngành hang, từ cao cấp đến các mặt hang xa xỉ đã phục vụ nhu cầu thương mại cho dân cư trên địa bàn thành phố và du khách thập phương.
Chợ Cốc Lếu (Ảnh sưu tầm)
Chợ Cốc Lếu được chia làm hai khu, khu A chuyên bán những mặt hang thủ công mỹ nghệ, hang điện tử, quần áo. Khu B mới được xây dựng gồm khu ẩm thực và khu hang hóa gia dụng. Mỗi ngày lượng du khách đến thăm chợ lên đến hang nghìn người. Đây là điểm tham quan mua sắm lý tưởng của du khách du lịch khi đến Lào Cai.
Phìn Hồ Thầu
Phìn Hồ cách trung tâm phường Lào Cai chừng 40 km về phía Đông Nam, có độ cao 1.700 m so với mực nước biển, nằm lưng dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ. Cùng với thôn Phìn Hồ Thầu, Ú Sì Sung, Phìn Hồ được coi là “Sa Pa” của thành phố Lào Cai bởi cảnh đẹp hấp dẫn và khí hậu lý tưởng.
Đến với Phìn Hồ là đến với nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc Mông, Dao và những thôn lân cận còn có thêm đồng bào Xa Phó, Giáy, Tày. Tại đây, du khách sẽ được thưởng thức những món ẩm thực đặc trưng, như nước ép từ quả mây, rượu thóc, thịt trâu sấy, lợn cắp nách, gà ô kê, bánh chưng đen, xôi bảy màu, nấm hương rừng… Người dân Phìn Hồ thân thiện, nồng hậu, sẵn sàng chào đón du khách tới thưởng lãm không gian sống, lao động và giúp du khách trải nghiệm nhịp sống của người dân bản địa, như làm nương, thăm rừng thảo quả, hái rau rừng, bắt cá suối. Du khách cũng có thể cùng chị em xe lanh, dệt vải, thêu thùa, khâu vá những bộ trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu.
Mốc biên giới Việt Nam – Trung Quốc
Lào Cai là một trong 6 tỉnh biên giới phía Bắc có đường biên với Trung Quốc. Tổng chiều dài đường biên gần 200km với 128 mốc. Đây cũng là một trong các địa điểm được các bạn trẻ mê xê dịch rất yêu thích mốc quan tâm check in. Mình gợi ý thêm có một mốc biên giới Việt Nam – Trung Quốc rất nổi tiếng ở Lào Cai đó là mốc 92 ở Lũng Pô. Mốc nằm ở ngã 3 sông, nơi bắt nguồn của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam.
Thác Bay Liêm Phú (Văn Bàn)
Đặt chân tới khu Khánh Yên (nay là xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai), bạn sẽ dễ dàng bắt gặp cái tên Thác Bay trên biển một nhà hàng cùng tên – đủ khiến ai cũng tò mò. Lối mòn từ Nhà máy Thủy điện Phú Mậu dẫn lên Thác Bay khá gập ghềnh, không dành cho những ai trông đợi một hành trình êm ả. Thác Bay nằm ở cuối tuyến đường Cùng, thuộc vùng thượng nguồn nay là xã Khánh Yên (sau sáp nhập từ xã Liêm Phú), giữa hai bản người Dao Phú Mậu và Lâm Sinh.
Thác Bay Liêm Phú ở Văn Bàn (Ảnh sưu tầm)
Từ trên cao, dòng nước đổ xuống như dải lụa ở lưng trời. Dòng nước dội xuống va vào vách đá tạo thành bụi nước và lớp sương mù mờ ảo càng làm cho khung cảnh thêm thơ mộng. Ngâm mình trong dòng nước mát lạnh, nhắm mắt để cảm nhận âm thanh của núi rừng, chúng tôi như cảm thấy mọi mệt nhọc dần tan biến.
Đứng dưới chân thác ngẩng lên quan sát thấy dòng thác trắng xóa đổ từ trên đỉnh núi xuống như một dải lụa trắng vắt xuống giữa trời xanh.
Du lịch tâm linh Lào Cai
Đền Bảo Hà
Đền thờ thần vệ quốc Hoàng Bẩy, một anh hùng miền sơn cước đánh giặc phương Bắc bảo vệ bản làng. Đây là địa chỉ thu hút du khách thập phương đông nhất của xã Bảo Hà. Theo truyền thuyết kể lại, vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786 ) khắp vùng Quy Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc vùng phương Bắc tràn sang cướp phá, giết hại dân lành.
Đền Bảo Hà (Ảnh – Trường Giang)
Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Trong một trận chiến không cân sức với quân giặc, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì dạt vào bờ. Nhân dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.
Đền Đôi Cô – Chùa Cam Lộ
Đền Đôi Cô và Chùa Cam Lộ tọa lạc tại thôn Chiềng On, phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai. Phía trước là dòng suối trong xanh, phía sau tựa lưng vào gò đồi lớn; Đền Đôi Cô còn được người dân gọi là đền “Cô Đôi” Cam Đường.
Cũng giống như những ngôi đền khác, đền Đôi Cô diễn ra một số ngày lễ hội chính như: Lễ tết thượng nguyên tổ chức vào ngày 10 tháng giêng (âm lịch) hàng năm. Lễ vào hè tổ chức vào ngày 10 tháng 4 (âm lịch). Lễ ra hè tổ chức vào ngày 10 tháng 7 (âm lịch). Ngày lễ chính của đền Đôi Cô tổ chức vào ngày 13 tháng 9 (âm lịch.
Đền Thượng

Đền Mẫu Lào Cai
Đền Mẫu Lào Cai tọa lạc tại cộc mốc biên giới số 102 giữa Việt Nam và Trung Quốc, gần Cửa khẩu quốc Lào Cai. Đền Mẫu Lào Cai được nhân dân vùng cửa ải Lê Hoa thuộc phố Bảo Thắng xưa, xây dựng từ thế kỷ XVIII. Ban đầu, đền chỉ là một ngôi thờ nhỏ bên bờ sông Hồng và sông Nậm Thi; qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, ngôi đền hiện nay đã khang trang với 9 gian thờ.
Đền Mẫu Lào Cai (Ảnh sưu tầm)
Năm 2011, ngôi đền đã được ngành chức năng xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Vị thần được thờ chính ở đây là Liễu Hạnh công chúa. Ngoài ra, còn phối thờ các vị thần thánh khác, như: Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Quan lớn Thủ Đền, bà Đệ Nhị Sơn Trang, v.v… Các pho tượng thờ ở trong đền được sơn son thiếp vàng, và đều toát lên oai thần to lớn.
Các địa điểm trekking ở Lào Cai
Fansipang
Phansipang nằm ở Tây Bắc Việt Nam, có tọa độ 22°17′52″B, 103°47′11″Đ. Phansipang chịu ảnh hưởng của miền khí hậu Miền Bắc, là khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân, hè, thu, đông rõ rệt. Mùa xuân miền Bắc bắt đầu từ tháng 2 cho đến hết gần tháng 4, là mùa đẹp nhất trong năm. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa này thì nhiệt độ trong ngày khá nóng và mưa nhiều.
Trên đường chinh phục nóc nhà Đông Dương, Fansipang (Ảnh sưu tầm)
Tháng nóng nhất thường là vào tháng 6. Tháng 5 đến tháng 8 là tháng có mưa nhiều nhất trong năm. Mùa thu chỉ vỏn vẹn trong hai tháng 9 và 10. Mùa thu miền Bắc rất đẹp, trời trong xanh và không khí mát mẻ. Mùa đông thường vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, mùa này khí hậu lạnh và hanh khô là một trong những địa điểm du lịch Sapa thu hút khách du lịch thích khám phá đến trải nghiệm.
Bạch Mộc Lương Tử
Nằm giữa hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai, dãy núi Bạch Mộc Lương Tử địa hình hiểm trở được dân phượt khai phá từ năm 2012. Ngọn cao nhất của dãy núi này có độ cao 3.046 m so với mực nước biển.
Trên đỉnh núi Bạch Mộc Lương Tử (Ảnh sưu tầm)
Để lên tới đỉnh, du khách phải leo quãng đường dài khoảng 30 km, qua nhiều địa hình khác nhau như đồi trọc, rừng tre nứa, rừng gỗ lớn, rừng trúc lùn đến những vách đá cheo leo toàn rêu phủ.
Xem thêm: Hướng dẫn chinh phục Bạch Mộc Lương Tử
Lảo Thẩn
Nằm trên độ cao 2.826 m, Núi Lảo Thẩn được mệnh danh là nóc nhà Y Tý (Lào Cai), một địa điểm lý tưởng để kết hợp trekking và ngắm biển mây bay trên đại ngàn trong hai ngày một đêm.
Mây trên đỉnh Lảo Thẩn (Ảnh sưu tầm)
Khi nhắc tới đỉnh núi vươn mình sừng sững ở vùng đất mây trời Y Tý, xã Y Tý, tỉnh Lào Cai, người ta thường nhớ đến cái tên Lảo Thẩn. Một địa danh mà chỉ nhắc đến thôi đã cảm thấy còn bao bí ẩn nằm trên vùng cao mây trời lộng gió. Đây là một trong các điểm du lịch quanh Sapa lý thú cho các bạn yêu thích trekking và “săn mây” trên cao.
Nhìu Cồ San
Từ Nhìu Cồ San nhìn sang Lảo Thẩn (Ảnh sưu tầm)
Nhìu Cồ San (còn gọi núi Sừng Trâu; tiếng Hà Nhì nghĩa là “Ba ngọn núi to”) là một trong những đỉnh núi cao nổi bật của Việt Nam, thuộc địa bàn xã Dền Sáng, tỉnh Lào Cai. Nằm ở độ cao 2.965 m, Nhìu Cồ San còn rất hoang sơ và được nhiều nhóm trekking lựa chọn. Theo đánh giá của hầu hết mọi người thì cảnh vật ở đây khá đẹp, thanh bình và đáng để trải nghiệm.
Ngũ Chỉ Sơn
Trên đỉnh Ngũ Chỉ Sơn (Ảnh sưu tầm)
Ngũ Chỉ Sơn (còn gọi núi Sừng Trâu; tiếng Hà Nhì nghĩa là “Ba ngọn núi to”) thuộc xã Ngũ Chỉ Sơn, tỉnh Lào Cai. Dãy núi gồm năm đỉnh vươn lên như những ngón tay khổng lồ, cao trên 3.090 m, thuộc nhóm đỉnh núi cao nổi bật của Việt Nam và được xem là một trong những ngọn núi đẹp nhất vùng Tây Bắc.Ngũ Chỉ Sơn được mệnh danh là dãy núi đẹp nhất miền Tây Bắc, thuộc xã Tả Giàng Phình, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, và là ranh giới của tỉnh Lào Cai và Lai Châu.
Mù Cang Chải
Mù Cang Chải là địa điểm đã quá nổi tiếng với những bạn ưa xê dịch (Ảnh sưu tầm)
Mù Cang Chải là xã vùng cao nằm ở phía tây tỉnh Lào Cai , nổi tiếng với ruộng bậc thang kỳ vĩ. Từ Hà Nội, du khách di chuyển khoảng 280–300 km theo QL32, vượt đèo Khau Phạ – một trong những con đèo hiểm trở và đẹp nhất Tây Bắc – là tới nơi.
Mỗi mùa tại Mù Cang Chải đều mang vẻ đẹp riêng. Tuy nhiên, mùa lúa chín tại Mù Cang Chải mang một vẻ đẹp của bức tranh thuỷ mạc khiến du khách không thể rời mắt. Từ tháng 9 đến giữa tháng 10 là mùa lúa chín, lúc này Mù Cang Chải tràn ngập trong một màu vàng óng của lúa chín.
Những thửa ruộng bậc thang của người Mông đã từng được tờ tạp chí danh tiếng của Mỹ National Geographic đưa tin và những bức ảnh về mùa lúa chín ở Mù Cang Chải đã lọt vào top những bức ảnh đẹp nhất thế giới.
Xem thêm: Các địa điểm đẹp khi du lịch Mù Cang Chải
Nghĩa Lộ
Cổng chào Nghĩa Lộ (Ảnh sưu tầm)
Nghĩa Lộ hiện không còn là “thị xã” mà là khu vực Nghĩa Lộ gồm ba phường: Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia thuộc tỉnh Lào Cai (sau sáp nhập 2025). Khu vực nằm ở phía tây tỉnh, địa hình thung lũng Mường Lò khá bằng phẳng với cao độ trung bình khoảng 250 m.
Phía bắc–đông–nam giáp xã Văn Chấn và các đơn vị lân cận; phía tây giáp khu Trạm Tấu (nay là xã Trạm Tấu, xã Hạnh Phúc, xã Phình Hồ…). Du lịch Nghĩa Lộ từ lâu nổi tiếng bởi văn hóa đặc sắc và truyền thống cách mạng với các điểm tham quan như Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu di tích Căng & Đồn Nghĩa Lộ, chợ Mường Lò, cùng các không gian sinh thái ở Nghĩa Lợi (nay thuộc phường Trung Tâm) và Nghĩa An (nay thuộc phường Nghĩa Lộ).
Bản Sà Rèn
Cách phường Yên Bái khoảng 90km về phía tây, dọc ven suối Thia (Nậm Thia), bản Sà Rèn nay thuộc phường Trung Tâm, tỉnh Lào Cai. Chỉ khoảng 2 giờ ô tô, bạn đã có thể đến tham quan và trải nghiệm điểm du lịch cộng đồng Sà Rèn – bản người Thái Đen còn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo.
Bản Sà Rèn được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi nơi đây vẫn nguyên vẹn vẻ đẹp thiên nhiên nguyên sơ với những hàng tre gắn với cuộc sống của người Thái đen được giữ gìn dọc ven bờ suối, những nếp nhà sàn cổ, những con người dân tộc miền sơn cước đôn hậu, thân thiện, mến khách.
Bản Chao Hạ
Nằm cách phường Yên Bái khoảng 80km, theo Quốc lộ 32 sẽ đưa du khách đến thung lũng Mường Lò – khu Nghĩa Lộ (gồm các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia) của tỉnh Lào Cai sau sáp nhập. Đây là một trong bốn vựa lúa lớn của Tây Bắc, có lịch sử hình thành lâu đời, nơi 17 dân tộc cùng chung sống, trong đó người Thái chiếm khoảng 90%.
Từ năm 2012, dưới sự đi đầu tiên phong của một vài người dân, Chao Hạ đã chuyển mình nghiêng theo hướng làm du lịch cộng đồng. Đến nay, bản đã là một trong những địa điểm đặc biệt yêu thích của khách du lịch nước ngoài. Đến bản Chao Hạ để du xuân ngắm cảnh núi rừng, trải nghiệm cuộc sống kiểu mới, thấy được hòa mình với thiên nhiên, với cộng đồng dân cư và thưởng thức những “món lạ” nơi đây
Bản Đêu
Bản Đêu nay thuộc phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai. Đây là địa điểm lý tưởng để tìm hiểu nét truyền thống của người Thái. Từ Bản Đêu, bạn có thể hòa mình vào đời sống bản địa, trải nghiệm đạp xe ~30 km tới suối Nậm Đông để tắm hoặc tiếp tục di chuyển sang xã Trạm Tấu. Các hoạt động du lịch ở Bản Đêu hiện chủ yếu do người dân địa phương tổ chức, có thể thuê hướng dẫn viên nếu cần.
Cánh đồng Mường Lò
Mường Lò là cánh đồng rộng thứ 2 miền Bắc, sau Mường Thanh ở Điện Biên (Ảnh sưu tầm)
Nếu như Tú Lệ, Mù Cang Chải đã nổi tiếng, thì cái tên Mường Lò (Nghĩa Lộ) dường như rất ít người biết đến. Trên trục quốc lộ 32 đến với Mù Cang Chải, bạn sẽ phải qua thị xã Nghĩa Lộ, đây là trung tâm kinh tế xã hội của toàn vùng Mường Lò ngày nay.
Nằm cách phường Yên Bái chừng 80 km về phía tây, thung lũng Mường Lò được ví như một “lòng chảo” khổng lồ, bao trọn khu Nghĩa Lộ (gồm các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia) và lan sang một phần địa bàn xã Văn Chấn.
Là vùng đất của lúa gạo, Mường Lò từ lâu đã được lưu truyền trong câu ca ngợi ca về bốn vựa lúa lớn nhất Tây Bắc: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”. Trong đó Mường Thanh (Điện Biên) là lớn nhất, Mường Lò là cánh đồng lúa lớn thứ hai của Tây Bắc, sau đó mới đến Mường Than (Lai Châu) và cuối cùng là Mường Tấc (Sơn La).
Di tích Căng Đồn Nghĩa Lộ
Khu di tích Căng và Đồn Nghĩa Lộ, nơi đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt và chiến thắng năm 1952, giải phóng Nghĩa Lộ. Khu di tích Căng – Đồn nằm trên trục chính đường Điện Biên (Quốc lộ 32). Đây là điểm trung tâm của phường Nghĩa Lộ và vùng lòng chảo cánh đồng Mường Lò.
Khu di tích lịch sử căng đồn Nghĩa Lộ (Ảnh sưu tầm)
Văn Chấn
Suối Giàng
Suối Giàng nay thuộc xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai, là một xã vùng cao nằm cách trung tâm xã Văn Chấn khoảng 12 km về phía bắc. Khu vực Suối Giàng có diện tích tự nhiên khoảng 5.922 ha, là nơi cộng cư của 4 tộc người: Mông, Kinh, Dao, Tày; trong đó người Mông chiếm khoảng 98,5%, còn lại là các dân tộc khác.
Do vậy, các giá trị văn hoá dân gian truyền thống của đồng bào Mông nơi đây còn lưu giữ được nhiều yếu tố cổ truyền độc đáo. Đây chính là sự khác biệt, tạo cho Suối Giàng có tiềm năng để trở thành khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái của vùng phía Tây nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung.
Suối Giàng là nơi sản sinh ra loại chè shan tuyết cùng tên vô cùng nổi tiếng (Ảnh sưu tầm)
Suối Giàng nằm ở độ cao trên 1.371 mét so với mực nước biển nên nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ trung bình thường thấp hơn khu vực xã Văn Chấn, phường Nghĩa Lộ từ 80C – 90C. Một ngày ở Suối Giàng, ta có thể cảm nhận rõ được bốn mùa trong năm. Ban đêm, trời se lạnh; sáng ra, mây mờ che phủ bồng bềnh khắp các bản làng, sườn núi; buổi trưa, trời trong xanh, lộng gió và buổi chiều, nắng vàng trải mượt như rót mật. Bởi thế, khí hậu ở Suối Giàng có thể sánh với Sa Pa, Đà Lạt.
Không chỉ có khí hậu mát mẻ, Suối Giàng còn có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những ruộng lúa bậc thang cong cong theo vạt núi, phóng tầm mắt xuống biển lúa vàng óng vùng Mường Lò, vựa lúa lớn thứ hai ở vùng Tây Bắc và một thị xã Nghĩa Lộ đầy năng động. Cùng với cảnh sắc thiên nhiên là những nét văn hóa độc đáo của người Mông, người Dao, người Thái còn được bảo tồn ở Văn Chấn.
Du khách đến đây không chỉ phiêu du dưới tán rừng nguyên sinh với phong cảnh kỳ thú mà còn có thể được cùng hái chè, sao chè rồi uống chè với những cô gái Mông mến khách, hoặc cùng chiêm nghiệm và hòa vào không khí bí ẩn, linh thiêng trong Lễ cấp sắc của người Dao, rộn ràng trong những ngày hội xuân, ấm áp trong Lễ mừng cơm mới của người Thái…
Đèo Lũng Lô
Đèo Lũng Lô, nằm ở ranh giới giữa tỉnh Lào Cai và tỉnh Sơn La. Nơi đây chứa đựng huyền thoại về những đoàn quân ra mặt trận hay đoàn dân công hỏa tuyến cùng đường đi hiểm trở đầy thử thách.
Với chiều dài 15km, 57 năm về trước, đèo Lũng Lô là đoạn đường huyết mạch nối liền với đường 6 để chuyển quân và tiếp tế lương thực phục vụ kháng chiến, đánh tan cứ điểm Điện Biên Phủ. Cũng tại khu vực này, để ngăn chặn bước tiến của quân ta, địch đã ném xuống đây hơn 2.000 quả bom với mật độ trung bình mỗi ngày gần 12.000 tấn bom.
Đèo Lũng Lô (Ảnh sưu tầm)
Trong bài thơ “Hoan Hô Chiến Sỹ Điện Biên” ra đời sau khi miền Bắc được giải phóng, Tố Hữu đã viết: Dốc Pha đin, chị gánh, anh thồ, Đèo Lũng lô, anh hò, chị hát. Gần đỉnh con đèo là điểm giáp ranh của cả 3 tính Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La.
Bản Hốc
Cách Hà Nội gần 200 km, bản Hốc nằm gần trung tâm xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai. Cộng đồng nơi đây có khoảng 80% người Thái, sống chủ yếu bằng nông nghiệp và còn lưu giữ khá nguyên vẹn những nét văn hóa truyền thống đặc trưng. Bản Hốc cách trung tâm xã Văn Chấn khoảng 1,5 km về phía tây bắc. Nằm bên suối Nhì thơ mộng và hùng vĩ, thôn Bản Hốc, xã Văn Chấn sở hữu cảnh quan giao hòa, là xứ sở của những điệu xòe, khắp, then uyển chuyển, giàu bản sắc Thái.
Nhà máy thủy điện Thác Bà
Là một công trình trọng điểm trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất của nước ta (1960 – 1965). Là nền móng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước.
Nhà máy thủy điện Thác Bà trên dòng sông Chảy (Ảnh sưu tầm)
Từ khi tiếp nhận và vận hành sản xuất. Nhà máy đã nhanh chóng ổn định tổ chức, tiếp thu nhanh nhạy kỹ thuật quản lý vận hành để độc lập công tác. Công suất và sản lượng điện phát ra của nhà máy trong thời kỳ chiến tranh và sau khi hoà bình lập lại chiếm 70% sản lượng điện của hệ thống điện miền Bắc, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội.
Đền Mẫu Thác Bà
Đền Mẫu Thác Bà nằm trên núi Hoàng Thi ở độ cao 70m so với chân núi. Đền có diện tích 1.800m2 quay theo hướng Đông Bắc dựa lưng vào núi, nhìn ra sông Chảy. Vượt qua 365 bậc đá, đến trước cửa sân đền, phóng tầm mắt ra xa có thể bao quát toàn cảnh công trình thủy điện đầu tiên của cả nước và ngắm nhìn một vùng trời nước mênh mông, hữu tình của hồ Thác Bà.
Đền Mẫu Thác Bà (Ảnh sưu tầm)
Theo truyền thuyết vào đời các vua Hùng Vương thứ XVIII có một nàng công chúa tên gọi là Minh Đạt được vua cha cắt cử trông coi vùng Trôi Thuỷ (Vùng sông Chảy ngày nay) để dạy nhân dân khai hoang, trồng lúa dệt vải, phát triển nghề chài lưới đánh bắt cá tôm, trồng cây gây rừng để hình thành nên Châu Thu, Châu Vật, Phủ Bình trù phú. Khi bà mất, để nhớ ơn đến công lao to lớn của bà, nhân dân đã lập Đền thờ Mẫu ngay trên ngọn thác tại xã Đạo Ngạn, nay là thị trấn Thác Bà. Hàng năm công chúa thường hiển linh tạo phúc làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp nhân dân vượt thác vượt ghềnh giao lưu buôn bán ngày càng phát triển.
Truyền thuyết còn kể lại rằng dưới thời nhà Trần, tướng quân Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật trong một lần xuất quân đánh quân Nguyên Mông xâm lược, khi qua đền Ông và nghĩa quân đã vào đền kính bái và được Thánh Mẫu giúp đỡ dẹp yên giặc thù. Khi đoàn quân thắng trận trở về, tướng quân Chiêu Văn Vương đã ban tặng Mỹ Tự Thác Bà tối linh từ.
Dưới các triều đại vua đã ban 6 sắc phong cho đền. Từ đó đã trở thành thông lệ, cứ đến ngày mùng 9 tháng Giêng, ngày Rằm tháng 4, ngày 17/7 và Rằm tháng Chạp là ngày lễ tri ân Thánh Mẫu. Trong đó, ngày mùng 9 tháng Giêng là ngày lễ hội chính để trăm họ tụ họp, mở hội rước Mẫu, dâng lên Thánh Mẫu lễ vật hoa tươi, trái ngọt, chè kho và rước cá để tỏ lòng tôn kính và cầu Thánh Mẫu phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, nhà nhà no đủ.
Hồ Thác Bà
Nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, hồ Thác Bà của tỉnh Lào Cai, nơi được ví như “Hạ Long trên núi” là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam hình thành khi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Thác Bà.
Hồ Thác Bà (Ảnh sưu tầm)
Hồ Thác Bà nay nằm trên địa bàn các xã ven hồ như Thác Bà, Yên Bình, Bảo Ái và các xã khu vực Lục Yên như Lục Yên, Tân Lĩnh, Khánh Hòa… Hồ rộng gần 23.500 ha, có hơn 1.300 đảo xanh soi bóng mặt nước, cùng hệ thống hang động đẹp ẩn trong những dãy núi đá vôi. Chính vẻ kỳ bí ấy tạo cho Thác Bà một nét lung linh, huyền hoặc mà vẫn rất thân thiện, hữu tình. Đi thuyền trên hồ Thác Bà, bạn không chỉ cảm nhận được bầu không khí mát lành từ nước, từ gió hồ Thác mà còn được hoà mình cùng thiên nhiên hào phóng, thả hồn mình vào mênh mông trời nước, điệp trùng núi đảo tưởng chừng như vô tận.
Hồ Thác Bà là một trong những điểm đến độc đáo của của tỉnh Lào Cai. Tuy là hồ nhân tạo nhưng cảnh quan của hồ là sự hài hòa của thiên nhiên với bàn tay con người. Một điểm đến xanh, thú vị chắc chắn sẽ là điểm dừng chân lý tưởng cho bạn trong kỳ nghỉ tới. Bỏ túi ngay kinh nghiệm du lịch hồ Thác Bà để có một chuyến đi suôn sẻ. Hồ rất yên ả, không khí trong lành, xanh, mát cùng với những vạt rừng xanh mượt trùng điệp nhấp nhô tới bất tận. Giữa hồ có động Mông Sơn là nơi chính quyền tỉnh Lào Cai sống trong cuộc chiến tranh đế quốc Mỹ các nhà khảo cổ của người Việt đã tìm ra những dấu vết của các di tích lịch sử như: Đại Cại, hang Ma mút, chùa São, núi Vua Áo Đen…
Xem thêm: Kinh nghiệm du lịch hồ Thác Bà
Bản văn hóa Ngòi Tu
Làng du lịch cộng đồng Ngòi Tu thuộc xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai. Làng nằm ven hồ thủy điện Thác Bà, cách trung tâm xã Thác Bà khoảng 4 km về phía tây bắc; cách khu trung tâm Thác Bà (trước là thị trấn Thác Bà, nay thuộc xã Thác Bà) khoảng 16 km về phía bắc; và cách trung tâm xã Yên Bình khoảng 35 km theo đường bộ về phía đông bắc.
Làng văn hóa Ngòi Tu (Ảnh sưu tầm)
Đến với Ngòi Tu ngoài việc được thưởng thức những món ăn dân dẫ bạn sẽ còn được hòa mình vào phong cảnh hữu tình, say lòng cùng những làn điệu dân ca, những điệu múa : làm chay, xúc tép, rước dâu truyền thống … Với những bạn thích lang thang khám phát còn có thể tham gia trekking núi Yến, núi Cao Biền hoặc đạp xe khắp bản để khám phá văn hóa của người Dao.
Trạm Tấu
Tà Sì Láng
Đường vào Tà Sì Láng những năm trước đây (Ảnh sưu tầm)
Tà Xi Láng là một xã vùng cao của tỉnh Lào Cai (sau sáp nhập 2025, bỏ cấp huyện), thuộc khu vực Trạm Tấu trước đây. Phía bắc giáp xã Phình Hồ, phía tây giáp tỉnh Sơn La (khu Phù Yên), phía đông và nam giáp xã Văn Chấn. Dân cư nơi đây hầu hết là người H’Mông, sinh kế chủ yếu dựa vào làm nương.
Tà Xi Láng cũng là một trong những địa phương xa xôi, khó khăn nhất: giao thông cách trở, địa hình chia cắt, nhiều đoạn đường có độ dốc 15–20%. Vì vậy, khi tới đây, du khách cần chuẩn bị kỹ phương tiện và theo dõi thời tiết để bảo đảm an toàn hành trình.
Háng Tề Chơ – Làng Nhì
Háng Tề Chơ (Háng Đề Chơ) là bản xa nhất của xã Phình Hồ, tỉnh Lào Cai. Đây là một bản tập trung khoảng vài chục hộ dân Mông Đen, bản cũng sở hữu ngọn thác cùng tên Háng Tề Chơ, được coi là một ngọn thác đẹp trong danh sách các điểm đến của Tây Bắc. Háng Tề Chơ là một điểm tham quan cực thú vị, cũng là “đệ nhất thác” của khu vực Tây Bắc.
Thác nước ở trong Háng Tề Chơ (Ảnh sưu tầm)
Bạn có thể tới đây vào mọi thời điểm trong năm đều đẹp nhưng do đường đi nguy hiểm, hiểm trở có những đoạn chỉ chừng có gang tay nên thời điểm thích hợp nhất để phượt Háng Tề Chơ là vào các tháng mùa hè. Thời tiết nắng nhưng khô ráo thuận lợi cho việc di chuyển tới chân thác cũng như phóng tầm mắt thu toàn cảnh núi non hùng vĩ.
Bản Mù
Cánh đồng xã Bản Mù, Trạm Tấu (Ảnh sưu tầm)
Bản Mù nay thuộc xã Phình Hồ, tỉnh Lào Cai. Cách trung tâm xã Phình Hồ khoảng 12 km, khu Bản Mù nằm ở độ cao trên 1.000 m, quanh năm sương giăng; những nếp nhà của đồng bào nép trên các sườn núi hoang sơ. Di tích lịch sử Kế Khấu Ly hiện thuộc xã Phình Hồ, tỉnh Lào Cai và đã được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng.
Di tích nằm ở phía tây nam tỉnh Lào Cai, cách phường Yên Bái khoảng 125 km (theo QL32 và QL133), cách khu trung tâm Trạm Tấu (nay là xã Hạnh Phúc – trước đây là thị trấn Trạm Tấu) khoảng 7 km về phía đông nam. Từ phường Yên Bái, theo QL32 qua khu Nghĩa Lộ (các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia), rẽ trái hướng tây nam, đi tiếp 31 km trên QL133 tới xã Hạnh Phúc; từ đây đi tiếp 7 km theo hướng đông nam là đến di tích.
Bản Cu Vai
Bản Cu Vai thuộc xã Xà Hồ (Ảnh sưu tầm)
Bản Cu Vai nằm trên một đỉnh núi cao thuộc xã Hạnh Phúc, tỉnh Lào Cai. Đây là điểm đến độc đáo, rất đẹp cho những du khách ưa thử thách, yêu thiên nhiên và cảnh sắc vùng cao.
Từ trung tâm xã Hạnh Phúc (khu vực Xà Hồ cũ), đi khoảng 8 km là tới bản Cu Vai. Bản là điểm định cư mới từ năm 2013 (“Cu Vai” tiếng Thái nghĩa là dây mây vắt ngang trời), nằm cheo leo trên sườn núi với gần 50 hộ dân, giữ trọn vẻ nguyên sơ, bình dị của cảnh vật và sự mộc mạc, hiếu khách của con người.
Suối khoáng nóng khu 5
Khu suối khoáng nóng (Ảnh sưu tầm)
Cách trung tâm xã Hạnh Phúc chưa đầy 3 km về phía tây bắc, cụm suối nước nóng này tọa lạc tại Khu 5 (khu vực thị trấn Trạm Tấu cũ), xã Hạnh Phúc, tỉnh Lào Cai.
Nguồn suối khoáng nóng này hoàn toàn tự nhiên, nhiệt độ trung bình khoảng 50 độ C, chảy luồn lách qua từng khe đá và được trữ lại ở mỗi ghềnh đá cuội, tạo thành hai ao tắm với hai nhiệt độ khác nhau tùy theo nhu cầu của du khách.
Do sử hữu nguồn nước dồi dào cùng với thiết kế của hệ thống tràn bể liên hoàn cho nên nước trong hồ luôn được giữ sạch sẽ chứ không hề bị ngả màu như nhiều suối nóng khác. Từ trên bờ, du khách có thể thấy rõ từng viên đá cuội to – nhỏ với nhiều hình dáng, màu sắc khác nhau dưới đáy hồ, trên mặt nước luôn luôn xuất hiện vầng khí nóng vờn quanh không tản.
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
Mây trời Nà Hẩu (Ảnh sưu tầm)
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có diện tích khoảng 16.950 ha, nay nằm trên địa bàn các đơn vị hành chính của tỉnh Lào Cai sau sáp nhập 2025, gồm: xã Tân Hợp, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng. Khu bảo tồn sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú, tiêu biểu cho vùng núi Bắc Bộ, với nhiều loài động – thực vật quý hiếm; đồng thời là điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho người yêu thiên nhiên, thích mạo hiểm và muốn khám phá văn hóa người Mông ở khu Nà Hẩu (nay thuộc xã Tân Hợp).
Từ xã Mậu A (trung tâm khu vực Mậu A trước đây), qua cầu Mậu A bắc qua sông Hồng, theo tuyến đường từ khu An Thịnh (nay thuộc xã Mậu A) đi xã Tân Hợp khoảng 30 km về hướng tây nam, vượt dốc Ba Khuy, du khách sẽ tới khu Nà Hẩu – nơi cộng cư gần như 100% người Mông. Đây là vùng rừng nguyên sinh còn giữ được tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan hang động – suối thác phong phú, rất thích hợp cho các hoạt động trekking và trải nghiệm bản địa.
Tới Nà Hẩu, mọi ồn ào của phố xá như được trút bỏ sau lưng. Vẻ đẹp của những cánh rừng già thâm nghiêm, mang tới sự hấp dẫn kỳ lạ đối với du khách. Những tán rừng nguyên sinh mang lại cho Khu Bảo tồn một bầu không khí thật trong lành, tinh khiết và đưa con người trở nên gần gũi với thiên nhiên hơn bao giờ hết.
Nằm ở độ cao trung bình từ 600 – 700 m so với mực nước biển, nơi cao nhất 1.800m, nơi thấp nhất 200m nên địa hình của Nà Hẩu bị chia cắt mạnh, tạo thành rất nhiều khe suối và có nhiều hang động, thác nước đẹp như thác Bản Tát, thác Suối Tiên, hang Dơi…
Đền Mẫu Đông Cuông
Đền Đông Cuông là cụm Di tích gồm 4 điểm: Ngoài Đền chính còn có Miếu Cô, Miếu Cậu và Miếu Đức Ông (Miếu Đức Ông tọa bên hữu ngạn sông Hồng đối diện với ngôi Đền Chính về hướng Nam cách 150m đường chim bay thuộc cụm di tích Đền Đông Cuông).
Đền Mẫu Đông Cuông thu hút được khá nhiều du khách về lễ (Ảnh sưu tầm)
Đền có từ lâu đời, qua sử sách thư tịch được biết Đền có muộn nhất vào đời Lê, được phát triển từ một Miếu cổ (thuộc trung tâm trại Quy Hóa thời Trần); Các thư tịch cổ như Kiến văn tiểu lục, Đại Nam thống nhất chí đều có ghi chép về ngôi Đền Đông Cuông này. Đền và khu vực đền có liên quan đến Đền Ngọc Tháp và Đền Hùng (Phú Thọ).
Đền Đông Cuông được xây dựng trên một thế đất rộng. Tọa sát bên đôi bờ sông hồng, xung quanh là đồng ruộng và núi rừng bao bọc, không giống những ngôi đền khác trường tồn giữa chốn phồn hoa, cửa nhà san sát mà Đền Đông Cuông “Đông Quang” đã được người xưa chọn phương cắm hướng ngay cấp sa bồi của thế đất vùng “Thượng lưu châu thổ sông Hồng”.
Thế đất binh sự – phên dậu nhưng không xa lìa thế nhân, chốn này tĩnh tại nhưng không hề âm u hiu quạnh. Vì vậy ngôi đền ấy mãi mãi sáng trong như đúng tên gọi “Đông Quang” cổ nhân đã đặt. Vậy nên từ xa đã khiến du khách nhận ngay được bóng dáng cây Đa khoảng 800 tuổi cạnh ngôi đền tuy cổ mà không cũ, tuy hiện đại mà mang tính dân tộc cao.
Về kết cấu kiến trúc: Theo dân tộc Tày Khao gọi là đình Đông Cuông với chức năng thờ Mẫu và vị Đại Vương, người Tày cho là Thành hoàng làng là chính, không kiêm nhiệm nhiều chức năng khác và không tập trung thể hiện mỹ thuật. Trang hoàng lộng lẫy, mà chỉ là những vân mây, sóng nước, điểm xuyến đôi hình hoa lá hoa dây. Đền Đuông Cuông có kết cấu hình chữ đinh gồm hai tòa đại bái và hậu cung cấm.
Hồ Chóp Dù
Hồ Chóp Dù nay thuộc phường Nam Cường, tỉnh Lào Cai. Nằm ngang lưng núi, hồ rộng khoảng 16 ha, cảnh quan sinh thái đa dạng với nhiều ngách nhỏ đan xen các mảng rừng tự nhiên bao quanh; nước hồ quanh năm trong xanh, phẳng lặng soi bóng hàng cây.
Tên “Chóp Dù” gắn với nhiều câu chuyện linh thiêng về cây đa cổ thụ, Ao Vua và dấu ấn lịch sử đấu tranh của quân dân Yên Bái cũ. Theo các bậc cao niên kể lại, thời Pháp thuộc, lực lượng vũ trang địa phương từng bắn rơi máy bay địch khi chúng nhảy dù xuống khu núi này, từ đó người dân gọi núi là Chóp Dù. Năm 1978, để phục vụ tưới tiêu, chính quyền xây hồ nhân tạo dẫn nước từ núi Chóp Dù xuống; dần dần, Hồ Chóp Dù không chỉ đáp ứng sản xuất nông nghiệp mà còn trở thành điểm du lịch sinh thái thơ mộng, hữu tình của khu vực Nam Cường.
Chiến khu Vần
Chiến khu Vần là một vùng đất khá rộng ở phía nam Trấn Yên và đông nam Văn Chấn của tỉnh Lào Cai (địa danh cập nhật sau sáp nhập 2025). Trước năm 1945, phạm vi chiến khu nằm trên địa bàn 3 tổng: Lương Ca, Giới Phiên (thuộc Trấn Yên) và Đại Lịch (thuộc Văn Chấn), có cự ly ước khoảng 23 km theo trục bắc–nam và 18 km theo trục đông–tây. Qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, các đơn vị hành chính tại đây đã thay đổi: Giới Phiên nay thuộc phường Âu Lâu, Đại Lịch nhập trong xã Chấn Thịnh, khu trung tâm Trấn Yên nay là xã Trấn Yên. Hiện nay, phần lớn không gian Chiến khu Vần được quản lý trong xã Trấn Yên của tỉnh Lào Cai.
Chiến khu Vần là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia (Ảnh sưu tầm)
Hồ Đầm Hậu
Cách phường Yên Bái chỉ khoảng 10km về phía nam, Hồ Đầm Hậu (còn gọi Hồ 99 ngách) nằm tại phường Âu Lâu, tỉnh Lào Cai, ngay gần nút giao trên cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Hồ Đầm Hậu là hồ nhân tạo, hình thành từ việc kè bờ, đắp đập xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu tại khu Đức Quân. Mặt hồ rộng, nhiều “ngách” nhỏ đan xen với mảng rừng tự nhiên bao quanh, nước trong xanh, phẳng lặng soi bóng hàng cây bốn mùa.
Cái tên “99 ngách” được tạo bởi việc đắp đập dâng nước nhấn chìm những đồi núi trong vùng đất rộng hàng chục hécta. Nhìn từ trên cao xuống hồ 99 ngách khiến chúng ta liên tưởng tới hình ảnh một con bạch tuộc. Hồ Đầm Hậu quanh năm nước tràn đầy, ngoài việc cung cấp nước tưới tiêu cấy lúa và các hoa màu trên địa bàn xã, hồ Đầm Hậu còn cung cấp một nguồn lợi thủy sản lớn với nhiều loại cá như: trắm, mè, gáy, vược, rô phi… với nhiều loài thủy sinh rong, tảo. Ngoài việc đánh bắt thủy sản trong hồ, người dân trong xã còn thả lồng nuôi cá, các đảo đất nổi trên hồ được trồng cây nguyên liệu giấy.
Chợ đá quý Lục Yên
Chợ đá Lục Yên chỉ họp trong khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ vào buổi sáng hàng ngày. Tùy mùa theo thời tiết mà phiên chợ diễn ra sớm hay muộn, nhưng có thể áng chừng từ sáu giờ sáng người bán hàng bắt đầu đến chợ.
Đá quý ở đây được bày bán như rau ngoài chợ (Ảnh sưu tầm)
Điều đặc biệt và cũng là khác biệt ở chợ đá quý Lục Yên so với các khu chợ khác đó là, cảnh mua bán diễn ra khá nhẹ nhàng chứ không hề “chợ búa” một chút nào. Không hề có cảnh tranh giành hay cãi cọ để giữ khách.
Từ người mua đến kẻ bán đều khá nhẹ nhàng, thoải mái. Các sản phẩm được bày biện gọn gàng, công khai ngay trên mặt bàn mà không cần bất kỳ phương pháp bảo vệ gì. Tại đây, khách có thể thoải mái chạm vào sản phẩm để xem xét, mặc cả; không thích có thể sang hàng bên cạnh mua mà không sợ bị lườm nguýt, càu nhàu.
Phần lớn những người mua bán ở chợ đã nằm lòng về nhau mấy mươi năm nay, giữa họ không chỉ có tình “làm ăn” mà còn là tình thân, nên chuyện giành giật khách là tối kỵ. Nếu chót vi phạm vào “lệ làng” này còn có thể bị tẩy chay hết đường làm ăn chứ chẳng chơi. Ở chợ cũng hầu như không có chuyện trộm cắp vì có người lạ là dân bản địa phát hiện ngay.
Chùa tháp Hắc Y – Đền Đại Cại
Quần thể di tích Đền Đại Cại thuộc xã Tân Lĩnh, tỉnh Lào Cai, cách phường Yên Bái hơn 80 km. Quần thể gồm đình Bến Lăn, chùa – tháp đất nung Hắc Y, đền Đại Cại và thành Nhà Bầu, quây quanh khu bãi đua ngựa – huấn luyện kỵ binh xưa, tạo nên một không gian di sản đặc sắc giữa vùng núi đá vôi.
Đền Đại Cại xưa gọi đền Ta Cại, nay đặt tại xã Tân Lĩnh, tỉnh Lào Cai. Trải qua ba lần di chuyển: trước thời Tự Đức, đền ở gò Đại Mạo cạnh miếu Hắc Y bên bờ phải cửa ngòi Đại Cại; sau đó chuyển sang gò Đền (đối diện gò Đại Mạo); đến thời Khải Định, đền được dời về vị trí hiện nay và gìn giữ cho tới ngày nay.
Chùa tháp đất nung Hắc Y (còn gọi miếu Hắc Y) tọa lạc trên đỉnh đồi Hắc Y, thuộc xã Tân Lĩnh. Công trình mang kiến trúc độc đáo thời Trần. Trên đồi Hắc Y còn có tháp Hắc Y, dấu tích thành đất, bãi quần ngựa… những chứng tích một thời oanh liệt trong lịch sử đấu tranh giữ nước.
Đền Suối Tiên
Theo sử sách, đền Suối Tiên xây dựng khoảng năm 1928 – 1929. Di tích đền Suối Tiên, với khuôn viên gần 6000m2, nằm trong không gian đậm nét văn hóa dân gian các dân tộc Lục Yên. Di tích Đền Suối Tiên là tài sản văn hóa vô giá của dân tộc, là thành quả lao động sáng tạo, là bằng chứng quan trọng, là “cuốn sử sống” phản ánh tinh thần lao động sản xuất, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và là “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường của nhân dân ta. Với giá trị và ý nghĩa đó, đền suối Tiên được công nhận là di tích Lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.
Các món ăn ngon và đặc sản Lào Cai
Món ăn ngon ở Lào Cai
Đồ nướng Sa Pa
Đồ nướng Sapa rất đa dạng với đủ thịt lợn bản xiên, ba chỉ nguyên miếng, cánh gà, chim cút, lòng, bò cuốn cải mèo, bò cuốn nấm kim, chả cá hồi hay thanh đạm hơn là những xiên rau, nấm… Tất cả những gì bạn phải làm chỉ là lấy một chiếc đĩa, chọn lấy những xiên que mình thích rồi đợi chủ quán nướng đều trên than hoa..
Thưởng thức đồ nướng trong cái lạnh của Sa Pa luôn mang lại một cảm giác rất lạ (Ảnh sưu tầm)
Cải mầm đá Sa Pa
Rau cải mầm đá (Ảnh sưu tầm)
Rau cải mầm đá là loại rau ưa lạnh, mọc trên núi cao, sống trong tiết trời mùa đông thường phát triển từ tháng 11 tới tháng 3 dương lịch hàng năm và là “con cưng” của xứ sở sương mù Sapa (Lào Cai). Cải mầm đá là loại rau rất hiếm và không được bán rộng rãi trên thị trấn sương mù này.
Mầm đá nhìn giống cây cải ngồng nhưng to hơn và có nhiều mầm như búp mọc bao quanh hình tháp nên thường được gọi là cải mầm đá. Khi ăn mầm đá mềm và ngọt hơn cải ngồng nhưng chế biến thường để mầm giòn giòn sần sật thì mới đúng vị của người Sapa và đặc biệt lưu ý nó không hề giống với tên của mình mà rất dễ bị chín mềm khi chế biến.
Gà đen Sa Pa
Gà đen hay còn gọi là gà ác có thân hình nhỏ, mỗi con trưởng thành thường chỉ nặng tầm 1,2kg, giống như tên gọi của nó, gà mang một màu đen từ đầu tới chân. Gà đen ở Sa Pa không chỉ được biết đến là một món ăn hấp dẫn mà còn được biết đến với nhiều công dụng hữu ích trong lĩnh vực y học với giá trị dinh dưỡng rất cao.
Gà đen Sapa (Ảnh sưu tầm)
Gà đen chủ yếu được bà con đồng bào dân tộc ở Sa Pa nuôi thả và cho ăn các loại rau rừng, cám ngô, cám gạo nên chất lượng thịt cao hơn nhiều so với các loại gà được nuôi công nghiệp.
Cá hồi
Lẩu cá hồi Sa Pa (Ảnh sưu tầm)
Nếu như trước đây khi đến với Sapa du khách chỉ được thưởng thức các loại thịt thú rừng, ăn cá suối, rau rừng và thưởng thức các loại hoa quả vùng ôn đới như táo, lê, mận, đào… hay tham quan các điểm du lịch quen thuộc như Thác Bạc, núi Hàm Rồng, bản Cát Cát, bản Tả Phìn, đỉnh Phanxipang,… thì nay khi đến với Sapa du khách sẽ được thưởng thức đặc sản cá hồi vân nổi tiếng trời Tây và tham quan trại nuôi cá hồi lớn nhất miền Bắc.
Dưới chân Thác Bạc, ở độ cao 1.800m so với mực nước biển, những chú cá hồi vân có xuất xứ từ Châu Âu, Châu Mỹ được chăm sóc rất “chu đáo” trong những cái ao nhân tạo. Đặc điểm sinh tồn của cá hồi vân là sống trong môi trường “nước động”, nhiệt độ thấp dưới 15 độ nên toàn bộ nước trong các ao đều được dẫn bởi 1.000m đường ống từ Thác Bạc về trại cá.
Cải mèo Sa Pa
Có thể nói, cải Mèo là một loại rau sạch, một đặc sản của thiên nhiên ban tặng cho vùng cao Tây Bắc, có sức sống mãnh liệt, sinh trưởng khoẻ, chống chịu sâu bệnh rất tốt. Nhà người Mông, Dao khi đãi cơm khách, chủ nhà chỉ cần ra nương, đồi nhổ vài cây cải mọc len lỏi trên các hốc đá hoặc tỉa một vài bẹ lá là đã có một bữa rau sạch đãi khách.
Do sự hấp dẫn và đặc sắc của cải Mèo, loại rau sạch này hiện nay đã có mặt ở nhiều nơi. Một số địa phương ở Tây Bắc còn nhân rộng giống cải Mèo trong các hộ nông dân để phát triển thành một loại rau đặc sản có giá trị kinh tế.
Đến Sa Pa dễ dàng bắt gặp cải mèo (Ảnh sưu tầm)
Do khí hậu và địa thế vùng cao cùng với đặc tính thổ nhưỡng, ở Sa Pa, cây cải Mèo mọc hoang và được trồng nhiều nơi. Cải Mèo có mã giống như cải bẹ xanh, tùa xại, cải ngọt ở miền xuôi, thuộc họ rau có bẹ, lá dài màu xanh sậm, viền lá khuyết nhọn. Xét về họ hàng, cải mèo thuộc hàng rau có bẹ, lá dài màu xanh đậm, viền lá xoăn cảm giác như có gai, loại có lông, loại trơn, đó cũng là lý giải cho cái tên. Cải mèo trồng nhiều ở các khu vườn vùng cao của người Mông, là thức ăn chính của họ mỗi ngày.
Su su Sa Pa
Su su bán tại chợ Sa Pa (Ảnh sưu tầm)
Hiện nay, ở Sapa có trên 150 ha trồng su su trong đó hơn 100 ha là ở vùng Ô Quy Hồ. Thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp chính là điều kiện lý tưởng để tạo lợi thế cho những người trồng rau ở Sapa phất triển Su Su với những sản phẩm đặc trưng như ngọn Su Su và quả Su Su.
Su su Sapa được trồng trên đât mùn núi cao rất màu mỡ ở độ cao 1500m, thêm vào đó nhiệt độ ngày, đêm có sự chênh lệch lớn nên khả năng tích lũy đường cao giúp Su Su có vị ngọt, độ giòn rất đặc trưng. Rau Su Su ở Sapa thì luôn phát triển rất tốt, năng suất cao và người trồng rất ít khi phải dùng đến những loại thuốc bảo vệ thực vật hay chất kích thích sinh trưởng.
Phở chua Bắc Hà
Phở chua Bắc Hà (Ảnh sưu tầm)
Nếu như Sa Pa nổi tiếng bởi cảnh sắc thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc thì Bắc Hà nổi lên là vùng đất du lịch với món phở chua Bắc Hà. Phở truyền thống Bắc Hà có 3 loại chính: phở chua, phở trộn và phở chan. Ngoài ra, tùy khẩu vị của từng thực khách, người bán hàng có thể chế biến những món phở kết hợp.
Nếu nói đến điều đặc biệt nhất ở phở Bắc Hà, hẳn phải kể đến bánh phở. Ở đây, bánh phở được chế biến thủ công từ loại gạo nương có màu phớt hồng do người Phù Lá ở Lùng Phình trồng. Tất cả các gia đình có nghề làm phở truyền thống đều tự chế biến bánh phở, vì thế bánh phở mỗi nơi lại có vị đậm khác nhau.
Thắng cố Bắc Hà
Thắng Cố được biết đến là món ăn truyền thống của người H’Mông, bắt nguồn từ vùng núi tỉnh Hà Giang cũ. Thịt nấu thắng cố theo truyền thống là thịt ngựa, về sau có thêm thịt bò, thịt trâu, thịt lợn. Món thắng cố ngựa ra đời khá lâu rồi tuy nhiên món này mới chỉ từ khi du lịch Bắc Hà phát triển mới được nhiều du khách biết tới.
Khắp các phiên chợ vùng cao bạn sẽ bắt gặp những chảo thắng cố (Ảnh sưu tầm)
Thắng cố được nấu khá đơn giản, tất cả lòng, ruột non, ruột già, phèo phổi bèo nhèo được nấu hỗn độn với xương ngựa, tiết ngựa, hôi nhưng rất bùi. Uống thêm một chén rượu ngô cho hết vị khó chịu của thắng cố bạn lại gắp thêm một miếng nữa cho vào miệng khi đó chỉ còn lại vị ngon ngọt, mùi thơm thoang thoảng của gia vị, kết hợp vị cay nồng của rượu ngô làm cho bạn muốn ăn hoài mà không thấy chán. Bạn sẽ nghiện món này khi đã được vài lần ăn thử nhé.
Cốm Bắc Hà
Trước đây, để mừng cho thành quả của những tháng ngày một nắng hai sương vất vả, đón một mùa vụ bội thu, đồng bào dân tộc Tày ở Bắc Hà thường tổ chức lễ ăn mừng cơm mới. Cũng vì thế, cốm ra đời để làm món ăn trong lễ cúng…
Cốm Bắc Hà (Ảnh sưu tầm)
Thế nhưng ngày nay, món ăn truyền thống này đang trở thành thứ quà hấp dẫn du khách mỗi khi đến vùng cao Bắc Hà vào tiết trời thu chớm lạnh. Theo bà con người Tày ở Bắc Hà, để làm được một mẻ cốm phải trải qua rất nhiều công đoạn, song việc đầu tiên là chọn lúa làm cốm có vai trò quan trọng.
Thông thường, lúa làm cốm thường là nếp nương, bởi loại lúa này hạt tròn, mẩy, lại giữ lâu được chất ngọt của hạt nếp, mùi thơm và độ dẻo của hạt lúa. Dù lúa nếp được cấy dưới ruộng nước hay gieo trên nương rẫy thì khi ngắt lúa về làm cốm, hạt lúa nếp phải còn chút sữa ở đầu hạt, vỏ hơi lam vàng một chút và hạt chưa chín hết, như vậy mới làm được hạt cốm vừa dẻo vừa thơm.
Mèn mén Bắc Hà
Món ăn được làm từ những hạt ngô tẻ địa phương là thực phẩm hàng ngày của người Mông. Cứ sau mỗi mùa thu hoạch, ngô lại được đồng bào Mông phơi trên những hiên nhà hay gác bếp, chờ khi thật khô mới đem đi làm mèn mén. Tuy nhiên để có được bát thành phẩm ngon phải trải qua nhiều công đoạn và thời gian.
Mèn mén (bột ngô) được bán ở chợ Bắc Hà (Ảnh sưu tầm)
Món mèn mén trộn cơm được rất nhiều người Mông yêu thích vì vị ngọt, bùi, thơm của ngô và vị mềm dẻo của cơm. Tại các phiên chợ, món này còn được hòa vào nước dùng để ăn cùng phở hay mỳ.
Trước đây, người Mông thường chỉ dùng để ăn trong nhà. Tuy nhiên ngày nay, chúng đã được làm nhiều hơn để bán trong các phiên chợ. Do vậy du khách ghé thăm những phiên chợ vùng cao đều có thể tìm mua được món ăn dân dã, đặc trưng này của người Mông.
Nếp Tú Lệ
Nếp Tú Lệ (người Thái gọi nếp Tan Lả) là giống nếp đặc sản chỉ có ở thung lũng Tú Lệ, nay thuộc xã Tú Lệ, tỉnh Lào Cai. Gạo nếp khi đồ thành xôi có mùi thơm ngọt, hạt dẻo mà tơi, rời hạt chứ không dính bết như đa số loại nếp khác, vì thế được xếp vào những giống nếp ngon bậc nhất Việt Nam.
Gạo nếp Tú Lệ (Ảnh sưu tầm)
Nếp Tú Lệ được xếp vào một trong những loại nếp ngon nhất nước ta, đồ lên thành xôi có vị thơm ngọt và dẻo, rời từng hạt chứ không dính chặt lấy nhau như đa phần các loại nếp thường khác. Nếp Tú Lệ còn gọi là nếp Tan Lả (theo tiếng của người Thái) là loại gạo nếp đặc sản chỉ có ở thung lũng Tú Lệ.
Gạo nếp ở đây rất ngon, dẻo thơm nổi tiếng là vì cánh đồng lúa được tưới mát bởi con suối đầu nguồn Mường Lùng, lúa được gieo trồng trên một nền đất hiếm, tầng phong hóa mỏng, nồng độ kali cao, thung lũng Tú Lệ lại nằm gọn giữa ba ngọn núi cao là Khau Phạ, Khau Thán và Khau Song nên biên độ dao động nhiệt độ trong ngày lớn, thời gian đêm dài hơn ngày. Đây là yếu tố quan trọng làm tăng mạch tinh bột Aminôtécpin, quyết định sự dẻo thơm của hạt gạo.
Thêm nữa là cấu tạo của đất Tú Lệ tơi xốp, dễ thấm nước và khí hậu trong lành, thuận lợi cho cây lúa phát triển tự nhiên nên cây nếp Tan Lả trồng xuống bén rễ xanh non mơn mởn. Chính vì vậy nếp Tan Tú Lệ được coi là gạo sạch và có mùi thơm rất lạ. Điều đặc biệt hơn nữa là không nơi nào trồng được loại lúa này mà cho thứ gạo thơm, dẻo như vùng thung lũng Tú Lệ.
Với những du khách đã từng đến Tú Lệ được thưởng thức các món ăn được chế biến từ gạo nếp Tú Lệ như: Cốm, cháo cốm vịt, xôi nếp ngũ sắc, cơm lam… được các cô gái Thái thổi hồn, nhấp chén rượu nếp Tú lệ do những đôi tay ngà mời lâng lâng trong tiếng “Khắp mời lẩu” – Hát mời rượu, say trong điệu xoè nồng hậu mới thấm hơn cái hồn của xứ Thái và ý nghĩa sâu xa của câu ca:
“Mường Lò gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
Xôi ngũ sắc
Từ bao đời nay, Mường Lò được mệnh danh là “lòng chảo” của các tỉnh Tây Bắc. Mỗi dịp du khách về đây thăm quan, du lịch họ không chỉ được ngắm cảnh đẹp hoang sơ, trữ tình của núi rừng mà còn là dịp để du khách có cơ hội được thưởng thức các món ăn ngon dân dã nổi tiếng như: Cơm lam, thắng cố, lạp sườn… Đặc biệt, một món ăn với hương vị ngọt ngào, có hình thức lạ mắt khiến du khách không thể nào bỏ qua đó là xôi ngũ sắc.
Xôi ngũ sắc ở Nghĩa Lộ (Ảnh sưu tầm)
Xôi ngũ sắc được làm từ các nguyên liệu khá đặc biệt. Ngay từ cách lựa chọn nguyên liệu, người ta cũng phải chú ý thật kỹ càng, phải lựa chọn được loại gạo ngon thì xôi mới dẻo, thơm (gạo Tú Lệ; hạt to). Ngoài ra, để tạo màu cho xôi người ta dùng các loại lá rừng (lá cẩm…) hoặc củ nghệ, quả gấc (cơm tím; cơm đỏ; cơm đen; cơm cam; cơm vàng; cơm trắng).
Theo những người lớn tuổi ở Mường Lò kể lại, muốn xôi ngũ sắc thật thơm, ngon và có hương vị ngọt ngào thì phải lấy được nước suối nguồn để đồ xôi. Để màu xôi không lẫn vào nhau, khi đồ xôi người ta để lần lượt từng màu gạo lên nhau. Khi đồ xôi phải trông liên tục để giữ cho lửa cháy đều và nếu không muốn xôi ngậy có thể cho một lớp mỡ gà mỏng lên xôi.
Đối với người dân Mường Lò, xôi ngũ sắc mang ý nghĩa rất đặc biệt, xôi ngũ sắc tượng trưng cho thuyết âm dương ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Nếu xôi màu đỏ, mang ý nghĩa tượng trưng cho khát vọng cuộc sống; xôi màu tím, tượng trưng cho đất đai trù phú, quý giá; xôi màu vàng tượng trưng cho sự ấm no, phồn thịnh; Còn xôi màu xanh, tượng trưng cho cảnh sắc tuyệt đẹp của núi rừng đại ngàn Tây Bắc, của bầu trời xanh bao la; xôi trắng, tượng trưng cho tình yêu trong trắng, thủy chung…
Năm 2008, xôi ngũ sắc đã được đưa vào kỷ lục Guinness Việt Nam với mâm xôi lớn nhất Việt Nam có trọng lượng 1,3 tấn, đường kính 2,8m, dày 30cm. Ngày nay, xôi ngũ sắc thường được làm vào các dịp lễ hội lớn như: Lễ hội Lồng Tồng (cầu mùa), Tết Nguyên Đán, Tết Xíp Xí (14/7) …
Mắc khén
Mắc khén hay còn có một cái tên gọi khác là hạt tiêu rừng, loại gia vị này khiến cho người nào lần đầu nhìn thấy sẽ liên tưởng ngay đến cây hồ tiêu dại được mọc rất nhiều trong rừng. Tuy nhiên không phải vậy đây là một loại cây thân gỗ rất lớn mọc trong rừng từ Mắc trong tên của loại gia vị này có nghĩa là quả từ Khén có nghĩa là cây lớn.
Mắc khén là gia vị quan trọng trong nhiều món ăn ở Tây Bắc (Ảnh sưu tầm)
Loại cây này được mọc rất nhiều trong rừng chúng có kích cỡ lớn thuộc họ hồi có tinh dầu và hương rất thơm. Có thể nói Mắc khén trở thành một loại cây huyền thoại cung cấp một loại gia vị tuyệt ngon đậm đà không thể thiếu trong bữa cơm hàng ngày của người dân nơi đây.
Muồm muỗm rang Mường Lò
Mỗi khi mùa lúa chín rộ, ấy là lúc bắt đầu mùa muồm muỗm. Thoạt trông, muồm muỗm có vẻ giống con cào cào, nhưng nhìn kỹ thấy mình nó thon, cánh nhỏ gọn hơn nhiều. Người ta bảo muồm muỗm thường ăn các loại trứng sâu, muỗi… trong các ruộng lúa nên được xếp là một loại “thiên địch”, là bạn của người nông dân.
Muồm muỗm rang giòn, thơm phức và béo ngậy (Ảnh sưu tầm)
Khâu sơ chế muồm muỗm cũng không đơn giản. “Vặt cánh, bẻ chân, ngắt đầu, rút ruột” là 4 khâu cơ bản để tạo nên hình hài một chú muồm muỗm trên bàn nhậu. Trải qua 4 khâu, muồm muỗm được rửa sạch, để ráo nước rồi cho vào chảo.
Đầu tiên, muồm muỗm được om với nước măng chua trên bếp lửa liu riu. Cạn nước, cho ngay mỡ (hoặc dầu ăn) vào, đảo đều tay trên bếp to lửa. Khi nào nghe tiếng nổ lách tách tức là muồm muỗm đã chín giòn. Nêm nếm gia vị vừa đủ cùng với mì chính, một chút ớt tươi và đảo nhanh tay; cuối cùng, cho lá chanh thái chỉ nhỏ vào, đảo đều chín tới lá chanh là bắc chảo ra được.
Dế chiên giòn
Tháng 7 âm lịch khi nhãn Mường Lò chín rộ cũng là lúc những con dế trở nên mập mạp, bóng bẩy, béo ngậy và món dế trở thành món chủ đạo trong các quán. Người ta bắt dế bằng nhiều cách và không mấy khó khăn như đào hang, đổ nước; tối đến trẻ em lại loanh quanh dọc phố bắt dế ven các cột đèn cao áp.
Cứ đến Nghĩa Lộ vào mùa lúa chín, kiểu gì cũng có món này (Ảnh sưu tầm)
Ở đây bắt dế không khó và vùng Mường Lò dế rất nhiều nên giá dế ở chợ Mường Lò cũng không đắt, khoảng vài nghìn đồng đã có ngay một lạng; ấy mà một lạng dế là khéo đủ vừa được cả đĩa 2 người ăn.
Về khu Nghĩa Lộ – Mù Cang Chải – Trạm Tấu — nếm giọt rượu nếp nồng nàn và thưởng dế mèn rán giòn rụm, tan nơi đầu lưỡi để bâng khuâng mà nhớ:
Bao giờ cho đến ngày xưa
Để nghe tiếng võng đong đưa của bà
Để dầm nắng dưới đầm hoa
Rình con Dế cụ thò ra thụt vào…
Cắn từng miếng Dế giòn tan và cảm nhận vị thơm, ngon ngọt, bùi béo có thể sẽ khiến thực khách quên khuấy luôn việc mình đã từng cảm thấy e ngại khi nghe tên món ăn này. Nếu có dịp về Lào Cai, du khách đừng quên ghé thăm Mường Lò, dừng chân thưởng thức món ngon Dế mèn thơm ngon, bổ dưỡng mang đậm sắc thái đồng bào dân tộc nơi đây.
Bánh chưng đen Mường Lò
Bánh chưng đen Mường Lò của người Thái không chỉ hấp dẫn bởi màu sắc đặc biệt mà còn có hương vị tuyệt vời. Những ai đã thưởng thức bánh sẽ không thể quên được độ dẻo dẻo, vị ngọt ngọt, béo béo quyện lại với nhau tạo nên 1 món ngon khó thể cưỡng lại.
Bánh chưng đen ở Mường Lò (Ảnh sưu tầm)
Giống như bánh chưng xanh của người Kinh, bánh chưng đen Mường Lò của người Thái cũng được cha truyền con nối qua nhiều thế hệ. Cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, được thưởng thức miếng bánh chưng đen, mùi gạo quyện với than núc nác, hoa cây vừng đen như có cảm giác thưởng thức cả mùi cỏ cây, ruộng đồng, đất trời và thiên nhiên.
Chiếc bánh được tạo ra với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời. Món bánh đặc sản này cũng không thể thiếu trên mâm cỗ cúng tổ tiên, đất trời mỗi khi xuân về.
Ngày trước, loại bánh này chỉ xuất hiện tại những ngày lễ, Tết, giỗ chạp… nhưng hiện nay nó đã trở thành món ăn phổ biến mà bất cứ ai khi tới đây đều muốn mua về làm quà tặng người thân, bạn bè hay thưởng thức ngay tại chỗ.
Rau dớn Mường Lò
Bà con dân tộc Thái gọi rau dớn là “phác pút”. Rau dớn không có ở đồng bằng, chỉ có ở vùng núi – nơi bờ suối, bờ khe, dưới các tán rừng thấp nơi có độ ẩm ướt cao. Đối với nhiều tộc người, rau dớn là “vua” loại rau, nó chẳng những giúp cải thiện chất lượng bữa ăn hằng ngày mà còn là món đặc sản để đãi khách trong các lễ hội. Mỗi lần tổ chức lễ hội của gia đình hay cộng đồng, người ta tranh thủ vào rừng hái rau dớn để chế biến thức ăn. Vì loại rau này nhanh bị dập nát nên được bà con hái đến đâu sử dụng đến đó, bảo đảm rau luôn tươi xanh, chất lượng.
Rau dớn là món ăn chỉ có thể tìm được ở các tỉnh vùng núi phía Bắc (Ảnh sưu tầm)
Rau dớn có thể chế biến thành nhiều món. Để làm món rau dớn xào, một gia vị không thể thiếu đó là tỏi. Tỏi giã dập, phi thơm rồi cho rau dớn vào đảo đều năm phút và bắc xuống nêm đường, bột ngọt, tương ớt, hạt tiêu, nước chanh tươi, lạc rang giã nhỏ…
Còn món nộm rau dớn luôn làm hài lòng những thực khách khó tính nhất. Làm món nộm không khó, rau dớn được lấy phần ngọn non, các lá bánh tẻ, rửa sạch. Luộc rau bằng cách đun nước cho thật sôi, to lửa rồi bỏ rau vào, lật lên khi nước vừa sôi thì vớt ra, để vào rổ cho róc nước.
Ruốc tôm Mường Lò
Từ nguyên liệu tôm nõm, thịt lợn thăn, dầu thực vật và các loại gia vị của người dân tộc nơi đây và không thể thiếu kinh nghiệm truyền thống của đồng bào Tây bắc đã tạo nên hương vị đặc trưng của sản phẩm ruốc Tôm.
Ruốc tôm, đặc sản nức tiếng của Mường Lò, Nghĩa Lộ (Ảnh sưu tầm)
Ruốc tôm là một món ăn tưởng chừng như rất đơn giản và dễ làm nhưng không phải ai làm theo công thức đó cũng ngon. Mỗi người, mỗi vùng miền đều có những bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt trong hương vị của từng món ăn. Ghé thăm Mường Lò nơi có những bàn tay khéo léo đã chế biến món ăn này từ những nguyên liệu hết sức gần gũi để mang lại đầy đủ vị ngon đến với người thưởng thức.
Để làm được món ruốc tôm ngon thì việc chọn nguyên liệu cũng rất quan trọng. Từ nguyên liệu tôm nõm, thịt lợn, dầu thực vật và các loại gia vị của vùng Mường Lò cùng với kinh nghiệm truyền thống của đồng bào Tây Bắc đã tạo nên hương vị đặc trưng của sản phẩm ruốc tôm. Nguyên liệu để làm món ruốc tôm gồm: Tôm nõn (tôm suối) bóc vỏ, thịt lợn (nạc vai), dầu thực vật, gia vị.
Rêu suối Mường Lò
Rêu suối Mường Lò vừa dài, vừa êm lại vừa rất xanh mát vì thế cho nên từ lâu nó đã trở thành một món ăn của người Thái nơi đây. Để có thể cảm nhận hết vị ngon của rêu thì phải ra tận suối để vớt hoặc hái rêu và trải nghiệm quá trình chế biến của món ẩm thực độc đáo này.
Rêu suối là món ăn đặc sản của người Thái khắp Tây Bắc (Ảnh sưu tầm)
Theo người dân nơi đây, rêu suối Mường Lò xuất hiện rất kỳ lạ, giống như là nó được sinh ra bắt nguồn từ truyền thuyết về dòng Thia vậy. Vào độ tháng 9, tháng 10 cho đến tháng 5 tính theo lịch âm đó là mùa rêu đá ở Mường Lò. Rêu cứ như thế mọc lên ở tất cả các hòn đá có trong suối, chỉ có màu xanh đậm và không hề ra hoa kết quả. Vậy là đều đặn hàng năm, rêu cứ mọc như là một quy luật tự nhiên, khi mọc dài đến kích thước nhất định thì sẽ tự rụng và cuốn trôi theo dòng nước.
Mùa xuân là thời điểm rêu suối Mường Lò ngon nhất. Nếu muốn chọn được rêu sạch và non thì cần phải lấy rêu ở nơi có dòng suối chảy xiết và tập trung nhiều tảng đá to. Tuy nhiên, việc lấy rêu suối cũng không phải đơn giản bởi rêu thường nằm sâu ở dưới nước nên cần lội xuống mới có thể hái được rêu.
Măng sặt
Măng sặt là loại măng thuộc họ tre, búp măng thẳng, to bằng chuôi liềm, mọc tự nhiên ở các vùng đồi của tỉnh Lào Cai như Văn Chấn, Trạm Tấu, nhiều nhất là phường Nghĩa Lộ.
Măng được bày bán rất nhiều ở Nghĩa Lộ (Ảnh sưu tầm)
Vào mùa xuân, khi tiết trời có mưa ẩm, khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 dương lịch, măng sặt phát triển rất nhanh, những ngọn măng nhú lên trên mặt đất, đồng bào các dân tộc người Thái, người Khơ Mú, người Dao thường dùng cuốc, thuổng, khéo léo đào lấy ngọn măng nằm sâu trong đất. Những ngọn măng tươi, còn lấm đất khi bóc ra sẽ mập mạp, trắng ngần, tươi ngon.
Bên cạnh đó, một món ăn chế biến từ măng sặt được rất nhiều du khách yêu thích đó là món măng sặt nướng, một món ăn vô cùng lạ lùng vô cùng hấp dẫn nhiều người. Măng sặt tươi khi mới đào về cho trên bếp than hồng, nướng chín đều, khi ăn bóc từng lớp vỏ bên ngoài chấm với mắm ớt sẽ cảm thấy rất thơm và ngọt, một món ăn thú vị và lạ lùng.
Ngoài ra măng sặt luộc chín, đem rán vàng rồi om với thịt vịt và tỏi, ăn nóng với hạt tiêu, hành, mùi rất lạ miệng. Măng sặt bóc vỏ đập dập ninh cùng sườn lợn thêm tỏi, cà chua, hành, mùi có vị ngon đậm đà. Măng sặt xào lòng gà, măng xào lòng vịt cũng rất thơm ngon. Măng sặt chẻ nhỏ ngâm với dấm ớt đóng lọ ăn dần cũng được nhiều người yêu thích.
Măng vầu cuốn thịt
Măng vầu thuộc họ tre, thân nhỏ không có gai. Chúng thường mọc ở rừng hoặc trên núi. Cứ hàng năm, đến tháng mười hai, từ dưới lớp lá hoai mục măng bắt đầu nhú lên, lộ hai tai nhỏ xíu xanh thẫm. Măng vầu ngon nhất vào tháng mười hai đến khoảng giữa tháng ba. Hầu như ở khắp các góc chợ miền núi đều có thứ đặc sản này.
Măng vầu cuốn thịt (Ảnh sưu tầm)
Ngoài cách chế biến măng vầu nhồi thịt, ta còn được thưởng thức món măng vầu xào tỏi hoặc xào rau răm. Măng tươi thái nhỏ, phi tỏi thật thơm cùng nhiều mỡ mới cho măng vào, măng ăn sẽ ngọt và giòn sần sật. Bên mâm cơm chiều, tiết trời lành lạnh, lãng đãng sương, âm thanh trong trẻo của núi rừng rất hợp với ẩm thực kiểu này. Nếu có dịp đặt chân đến một trong những tỉnh miền núi phía Bắc, bạn đừng quên thưởng thức món măng này.
Măng chua héo
Cứ vào khoảng tháng 9 – 10 hàng năm nếu du khách có cơ hội đến tham quan du lịch tại Lào Cai chắc chắn bạn sẽ được nếm thử một món được xem là đặc sản nơi đây hết sức hấp dẫn và độc đáo đó là món Măng chua héo.
Đây là một món ăn hết sức phổ biến của người dân nơi đây. Người dân nơi đây bất kì ai mỗi khi lên nương lên rừng vào thời gian này đều sẽ tranh thủ để tìm một củ măng thật tươi thật ngon để mang về chế biến làm nên món đặc sản Măng chua héo. Nhất là những người của đồng bào Thái hoặc Tày họ sẽ không bao giờ bỏ qua thời điểm mà thiên nhiên ban tặng cho này được.
Măng chua héo (Ảnh sưu tầm)
Có thể nói món Măng chua héo là một món ăn nếu bảo quản tốt sẽ để được rất lâu. Mọi người dân nơi đây cho rằng đây là một món ăn vừa ngon lại làm được nguồn thức ăn dự trữ vô cùng tốt. Có nhà để được món ăn này đến vài tháng trời thậm chí cả năm nhưng nó hoàn toàn không bị hư hỏng mà thay vào đó vẫn giữ nguyên được hương vị tuyệt vời như ban đầu. Như vậy qua những điều đó món Măng chua héo này hoàn toàn trở thành một món ăn đạt chuẩn có mặt trong mọi gia đình người dân nơi đây.
Xôi trứng kiến Mù Cang Chải
Theo lệ, cứ vào độ tháng hai, tháng ba âm lịch hằng năm là vào mùa trứng kiến. Khi đó bà con lại rủ nhau vào rừng. Nhưng muốn lấy được nguyên liệu trứng kiến ngon thì phải lấy vào những ngày nắng ráo. Nếu không trứng kiến thấm nước mưa sẽ ăn không ngon. Thường công việc này do cánh đàn ông đảm nhận, còn đến khi chế biến thì thường phụ nữ làm rất khéo.
Món xôi được làm từ nếp nương và trứng kiến đen (Ảnh sưu tầm)
Không phải loại kiến nào cũng có thể lấy trứng để chế biến món ăn. Kinh nghiệm của bà con là loại kiến để lấy trứng là kiến ngạt, có màu đen. Khi vào rừng, bà con tìm những tổ kiến to ở trên cây và chặt xuống để lấy trứng. Tuy nhiên, không bao giờ người vùng cao lấy hết trứng trong tổ. Bao giờ bà con cũng chừa lại một phần để kiến còn sinh sản cho vụ sau.
Chế biến xôi trứng kiến khá tỉ mỉ và cẩn thận. Gạo nếp ngâm và vo sạch, ngâm từ 3-4h sau đó mới vớt ra, rồi đem đồ. Khi thấy những hạt gạo căng phồng, chuyển thành màu trắng trong, hương thơm ngào ngạt. Còn trứng kiến sau khi được lấy về sàng lọc bỏ những tạp chất, sau đó ngâm vào nước ấm sạch để quấy nhẹ, rồi rửa trứng để thật ráo nước. Sau đó, trứng kiến được ướp gia vị rồi được xào cùng với củ kiệu đã được phi hành mỡ gà cho thật thơm, vừa chín tới và dậy mùi thơm hấp dẫn.
Trứng kiến đặt trong lá chuối và cho vào chõ xôi đã đồ, mùi thơm của trứng kiến kết hợp cùng với mùi thơm của xôi, vị béo ngậy của trứng kiến kèm theo với mỡ hành phi thơm sẽ rất hấp dẫn du khách. Người vùng cao Lào Cai thường ăn xôi nếp trứng kiến với cá suối sấy khô nướng than chấm muối ớt trộn chanh…
Vịt bầu Lục Yên
Vịt bầu Lâm Thượng có đặc điểm rất dễ nhận biết, đó là lông vằn, mình tròn, chân ngắn, cổ ngắn. Con đực đầu xanh biếc, nặng từ 2 – 2,5 kg, con mái nặng từ 1,8 – 2kg. Da vịt bầu mỏng, vàng như da gà, thịt vịt chắc, thơm ngon, vị ngọt đậm đà.
Vịt bầu Lâm Thượng, Lục Yên thịt chắc và thơm ngon (Ảnh sưu tầm)
Có lẽ do được chăn thả tự nhiên giữa những dòng suối mát lành chảy ra từ dãy núi đá có nhiều hang động tuyệt đẹp còn hoang sơ, ít dấu chân người biết đến, cùng những đồng ruộng tốt tươi màu mỡ, nên bởi vậy, vịt bầu Lâm Thượng có ưu điểm thơm, ngọt, da mỏng; được người dân trong huyện coi là món ngon dùng để thiết đãi khách quý, được khách phương xa luôn tìm thưởng thức mỗi khi có dịp về với đất Lục Yên và trở thành một trong mười sản phẩm đặc sản nổi tiếng của tỉnh.
Gà trống thiến Lục Yên
Nhắc đến ẩm thực vùng đất Ngọc Lục Yên, ngoài cam sành, khoai tím, cà giòn, hồng không hạt, vịt bầu Lâm Thượng… còn không thể không nhắc đến gà trống thiến Lục Yên. Với vị béo ngậy, thơm ngon, màu vàng bắt mắt, thớ thịt giòn dai, ngọt đậm, thịt gà trống thiến Lục Yên trở thành món ăn không thể thiếu trong mâm cỗ những ngày Tết Nguyên đán.. Mỗi con nặng từ 3 – 3,5kg, mã rất đẹp, mào to đỏ chót, bộ lông đỏ tịm mềm mượt, đuôi dài… Thịt gà sau khi luộc có màu vàng óng, rất thơm, khi ăn béo ngậy, mềm nhưng săn chắc, ngọt, da dày và giòn.
Món Mọoc
Nếu như người Kinh có món mọc được làm từ giò sống và nấm hương, thả vào trong nước ăn cùng bún, mì… thì người Tày Lục Yên cũng có một món ăn với cái tên tương tự mọc (người Tày phát âm là “mọoc” với phần âm kéo dài hơi luyến) nhưng với những nguyên liệu khác. Món ăn này không chỉ có mặt trong các bữa ăn thường ngày mà còn trở thành món đặc biệt không thể thiếu được trong các cỗ lớn: ngày tết, ngày giỗ, ngày cưới… của người Tày.
Hoa chuối đem về thái sợi mỏng, rồi ngâm qua với nước vo gạo hay nước muối loãng, sau đó cho lên bếp đun sôi để giảm bớt nhựa trước khi đem bỏ vào cối giã nhuyễn cùng các nguyên liệu khác. Thịt lợn, cá, tôm cùng các loại gia vị đem giã nhuyễn. Có một điều thú vị nho nhỏ là trong cách chế biến của người Tày cá được bắt ở suối sẽ không mổ ruột mà để nguyên cả con vì theo quan niệm của người Tày, cá, tôm được nuôi ở suối ăn rong rêu, cỏ lá của thần sông nên họ rất quý trọng.
Sau đó cho tất cả các nguyên liệu đã qua sơ chế vào trộn đều, thêm chút muối, bột gạo nếp tạo độ kết dính, ta đã có được mọoc sống thành từng nắm nhỏ, gói bằng lá dong và xếp vào chõ xôi. Thời gian xôi khoảng 45 phút, trong khi xôi, lửa phải cháy đều liên tục. Mọoc chín xếp ra nong cho nguội rồi mới bày cỗ.
Trong bữa ăn, món mọoc được xếp ra đĩa và đặt ở vị trí trung tâm của mâm. Mọoc lúc này đã chuyển sang màu tim tím, dẻo quyện vào nhau như một chất hồ dính. Chấm với nước mắm có hạt dổi, ăn cùng rau sống. Khi thưởng thức, vị bùi bùi của hoa chuối, béo ngậy ngòn ngọt của thịt lợn và tôm cá cộng với vị cay của các loại gia giảm thấm dần vào vị giác của từng người, sẽ cho chúng ta một trả nghiệm rất thú vị về văn hóa ẩm thực độc đáo của người Tày Lục Yên.
Thịt mắm cơm đỏ người Tày
Thịt mắm cơm đỏ của người Tày Lục Yên không cầu kỳ như nhiều món ăn khác, được chế biến đơn giản từ các nguyên liệu mang đậm chất quê của người miền núi, thịt mắm cơm đỏ cho người thưởng thức biết tới một hương vị riêng biệt của món ăn dân tộc.
Món này quan trọng nhất là không thể thiếu nguyên liệu lá cơm đỏ (Ảnh sưu tầm)
Nguyên liệu để làm món ăn này là thịt lợn, lá cơm đỏ, củ giềng, muối, rượu… Để có món mắm thịt ngon, thì thịt lợn phải tươi, thịt nửa nạc nửa mỡ hoặc chọn lấy phần thịt ba chỉ là ngon nhất. Vào những khi nhà có việc hệ trọng, hay khi Tết đến phải mổ lợn, dù to hay bé, người Tày ở Lục Yên thường dành riêng phần thịt ba chỉ để làm thịt mắm cơm đỏ.
Sau đó thịt rửa sạch để ráo nước, thái chỉ ướp với muối và rượu (lưu ý phải là rượu nếp cẩm mới ngon). Giềng thái mỏng, lá cơm đỏ rửa sạch vò dập… Tất cả được trộn đều và cho vào chum đậy kín để chỗ thoáng mát tránh ánh nắng mặt trời, sau 30 ngày sẽ có một chum thịt mắm cơm đỏ thành phẩm.
Để chum mắm thịt cơm đỏ ăn được lâu, sau khi lấy ra ăn cần buộc chặt lại để bảo quản được lâu. Nếu mở ra nhiều chum mắm sẽ cay và không còn vị ngọt. Nếu bảo quản kỹ, món thịt nắm cơm đỏ có thể để được khoảng 5, 6 tháng.
Cá Sỉnh Nậm Thia
Người Thái Tây Bắc coi cá là món ăn quý trong đời sống thường ngày hoặc khi có hội. Pa khính Nậm Thia (cá sỉnh suối thia) là đặc sản đầy tự hào của người dân Mường Lò.
Cá sỉnh ưa sống ở nơi nước xiết, mình thon dài, đầu nhỏ, vẩy trắng, lăn tăn như hoa bạc, hai bên lườn ánh xanh. Con nào to nhất cũng chỉ bằng bốn ngón tay, thịt chắc ngọt đậm, thơm, xương đã ít lại mềm. Cá sỉnh có thể chế biến thành nhiều món ăn thơm ngon, độc đáo, dưới bàn tay nội trợ khéo léo của người con gái Thái.
Cá sỉnh đánh bắt trên dòng sông Nậm Thia (Ảnh sưu tầm)
Món pa chen: Cá sỉnh rửa sạch, rán qua, để nguội rồi rán lại lần hai. Khi ăn, khách có thể dễ dàng tước cá thành bốn mảnh theo chiều dọc, chấm với nước chấm trộn chanh, gừng, ớt, hạt sẻn (một loại hạt giống hạt tiêu) thì thơm ngon vô cùng. Thịt của cá dai dai, bùi, thơm, béo ngậy hài hòa.
Món pa pỉnh tộp: Cá sỉnh ướp gừng, sả, hành, ớt, hạt sẻn… gập đôi kẹp các loại rau thơm ở giữa rồi cặp bằng cặp tre nướng than. Món này ăn nóng với cơm gạo mới hoặc xôi nếp Tú Lệ thì no mà không chán.
Món pa mọ: Cá sỉnh ướp với hạt sẻn, ớt, sả, gừng. Lấy hoa chuối rừng thái mỏng, ngâm nước cho sạch nhựa rồi trộn đều với gia vị, đặt cá vào giữa, rắc nộm hoa chuối xung quanh rồi lấy hai chiếc bẹ hoa chuối già làm áo, buộc kỹ và đồ chín bằng chõ. Khi chín rắc thêm vừng, lạc giã nhỏ, ăn nóng. Vị bùi thơm của hoa chuối hòa cùng hương vị của cá và gia vị kích thích vị giác và rất lạ miệng. Cá sỉnh còn được chế biến thành nhiều món ngon khác.
Pà Mẳm
“Pà mẳm” gọi theo tiếng của đồng bào Thái có nghĩa là mắm cá. Pà mẳm có nhiều loại nhưng ngon và quý phải kể đến Pà mẳm cá chép. Món ăn này tuy không cầu kỳ nhưng yêu cầu phải đảm bảo những nguyên tắc chế biến riêng.
Pà mẳm đơn giản là món mắm cá theo một cách gọi khác của người Thái (Ảnh sưu tầm)
Người Thái có nhiều loại mắm (mẳm), gọi tên theo nguyên liệu dùng để chế biến. Mắm cá chia ra mẳm đí làm bằng cá nhỏ và pà mẳm làm bằng cá to. Mắm làm bằng tôm gọi là mẳm củng hay mẳm manh khẩu san, bằng con quăng (một loại cá nhỏ) là mẳm tắc ten, bằng châu chấu là mẳm hén, bằng những con bọ ở nước là mẳm pá dí, mắm làm theo kiểu người Lào gọi là pà đẹc…
Nói chung, cá để làm mắm thường là loại mình dẹt, có vảy, ít khi làm bằng cá mình tròn không vảy.Chỉ bằng cá chép và thính gạo nếp, hạt sẻn, ớt tươi băm nhỏ, xả, riềng, quế chi đồng bào Thái đã chế biến được món ngon đậm đà hương vị.
Cá nướng hồ Thác Bà
Vốn là dòng sông có dòng chảy xiết, sông Chảy có nhiều loại cá bơi giỏi, thịt săn chắc như cá chày, cá bỗng, cá chiên, cá chép, cá trắm… ở cửa các dòng suối lớn đổ vào sông như Ngòi Biệc, Ngòi Tu…, người ta đã từng bắt được những con cá bỗng vài chục kg, cá chày 7 – 8kg bằng đánh cụp, bằng câu, bằng đánh lưới.
Cá nướng, đặc sản Thác Bà (Ảnh sưu tầm)
Cá bỗng có thân gần giống cá trắm, bụng và vây lại giống cá chép, miệng thuôn nhỏ, ăn cả mồi thực vật và động vật. Thịt cá bỗng đặc biệt thơm ngon khi được nướng hoặc rán vàng. Người ta cũng có thể dùng cá bỗng nấu lá tai chua ăn nóng, vị cá đậm đà mà không thấy mùi tanh.
Những loài cá ăn chìm có cá nheo, cá trạch, cá trê, cá bò, cá ngạnh. Cá trạch rán, cá trê kho với lá gừng. Cá nheo, cá bò nấu ám, hoặc kho với chuối xanh, ăn miếng chuối cứ bùi bùi như thịt cá. Cá ngạnh nấu dưa chua thì cả nồi ngon nhất là nước chan, vị ngọt của thịt cá như tan hòa thấm đậm vào cơ thể người thưởng thức.
Ăn nổi gần mặt nước có cá mương, cá thầu dầu. Ở hồ Thác Bà khi nước mới dâng một vài năm, cá thầu dầu tụ lại thành đàn đông, hớt một mẻ te (một dụng cụ đánh bắt cá) có khi được cả tạ cá. Cá chỉ nhỏ bằng ngón tay, làm sạch kho khô hoặc đem nấu canh hoa chuối, tra mẻ ngấu. Nước canh sẽ có màu trắng đục như sữa, cá có vị hơi đắng, ăn lạ miệng mà ngon.
Cá thiểu gù cắt bỏ đầu, vây, đuôi, làm sạch rồi đưa vào cối xay xay nhuyễn trộn lá thơm sẽ biến thành món chả cá thật ưa dùng. Cá được tẩm ướp bằng các loại gia vị như dầu điều, mật khoái, gừng riềng sả ớt, tiêu, tỏi rồi được nướng trên than hồng.
Mắm tép hồ Thác Bà
Thác Bà được ví là một vựa tôm tép và món mắm tép hồ Thác Bà cũng từ đó mà nổi tiếng nức vùng. Với món mắm tép này có thể ăn kèm chuối xanh và thịt lợn luộc, khế cùng rau đinh lăng, hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản.
Mắm tép Thác Bà (Ảnh sưu tầm)
Bát mắm tép vô cùng hấp dẫn bởi vị mặn, ngọt, chua chua dịu, và mùi thơm đặc trưng. Ngoài ra, tép còn được kho với quả khế chua hoặc có thể đem hấp vào cơm cùng với trứng gà bạn sẽ được một món ăn ngon lành mà là lạ chẳng kém gì đặc sản. Tép kho ăn với cơm trắng dẻo, người kén ăn cũng không thể bỏ bữa nửa chừng. Mắm tép khi chín ngấu có màu đỏ sậm, rang với thịt lợn băm nhỏ ăn với xôi nếp Tú Lệ thì không biết chán, chỉ ngại no.
Bọ xít chiên giòn
Năm nào cũng vậy, cứ vào tầm tháng tư hè khi mùa hoa nhãn nở rộ, trên những chùm hoa phủ đầy phấn trắng xuất hiện nhiều chú bọ xít bám dày. Khi đó, người dân khu vực Văn Chấn, Nghĩa Lộ lại bắt đầu chuẩn bị chăm sóc cho mùa quả ngọt mới và lại có thêm một món ngon là món bọ xít chiên giòn.
Bọ xít chiên giòn (Ảnh sưu tầm)
Theo quan niệm của người dân, bọ xít nhãn là một loại côn trùng không độc hại và bổ cho sức khỏe bởi bọ xít là loại ký sinh sống dựa vào tinh chất của cây nhãn mà nhãn là loại hoa quả có hàm lượng dinh dưỡng cao.
Có rất nhiều cách hiệu quả để bắt bọ xít. Khi bọ xít còn non, chỉ cần tẩm nước măng chua hơ lên cây nhãn, chúng sẽ tự rơi xuống đất. Người ta dùng chiếc nẹp tre kẹp từng con bỏ vào túi. Với bọ xít già đã mọc cánh, phải dùng lưới mắt nhỏ và dày để bảo vệ hoa và quả nhãn. Sau khi đã buông lưới người ta thường dùng những sào dài rung nhẹ từng chùm hoa, bọ xít thấy động là bay khỏi chùm hoa, rơi liền xuống. Con nào rơi xuống đất phải nhanh tay nhặt liền kẻo chúng bay mất.
Người dân nơi đây chế biến bọ xít khá đơn giản. Để bọ xít không còn mùi hôi, người ta đem bọ xít ngâm xuống nước vài giờ cho đến khi bọ xít đã chết, bọt khí từ bọ xít bốc lên phủ kín mặt nước, bấy giờ người ta vớt ra, rửa sạch để ráo nước rồi đem sao vàng.
Khi bọ xít khi đã được sao vàng không còn mùi hăng hắc đặc trưng nữa mà có mùi rất thơm. Điều đặc biệt là không phải ướp bọ xít với gia vị gì, kể cả mắm, muối, mì chính. Khi ăn, đổ dầu lưng chảo, rồi xúc bọ xít vào rá sắt, nhúng vào dầu sôi một lát, rồi nhấc ra đĩa là tuyệt vời.
Bánh dày người Mông
Với người Kinh, bánh Chưng là biểu tượng cho Tết, cho trái đất vuông tròn đầy đủ, còn với người Mông bánh dày là biểu tượng cho tình yêu, sự thủy chung son sắt của trai gái người Mông, bánh dày còn tượng trưng cho Mặt trăng, Mặt trời – là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên Trái đất.
Bánh dày tiếng Mông (Ảnh sưu tầm)
Theo những già làng người Mông kể lại: Thủa xưa có chàng trai người Mông tên là Nù Plai bị thần Hổ về bản bắt mất người yêu, Plai buồn lắm, chàng đau khổ đến quên ăn quên ngủ và quyết tìm gặp thần Hổ để đòi lại người yêu. Đường núi xa xôi hiểm trở, để đến nơi thần Hổ giam giữ người mình yêu, Plai phải lội qua bao thác ghềnh, vực sâu. Plai đã nghĩ ra cách nấu gạo nếp nặn thành bánh (nay gọi là bánh dày) làm lương thực để đi tìm lại người yêu.
Qua bao gian nan khổ ải, Plai đã tìm được nơi ở của thần Hổ. Cảm động trước tình yêu của chàng trai người Mông, thần Hổ đã trả lại người yêu cho chàng. Từ đó, chiếc bánh dày đã trở thành biểu tượng của tình yêu thủy chung đôi lứa của trai gái người Mông. Sự tích về bánh dày biểu tượng cho tình yêu của trai gái Mông đã đi vào cuộc sống, trở thành nét đẹp văn hoá trong cuộc sống của đồng bào.
Bánh chuối Lục Yên
Từ lâu chuối đã trở thành cây gần gũi, gắn bó với người Tày Lục Yên, bởi những hữu ích từ cây chuối đem lại. Từ những quả chuối chín vàng, đồng bào Tày ở xã Lục Yên đã khéo léo chế biến thành những chiếc bánh chuối vô cùng hấp dẫn. Vị hấp dẫn ở bánh chuối là ngoài nhân có đỗ, lạc và đường còn lại các phụ gia đều từ chuối.
Bánh chuối Lục Yên (Ảnh sưu tầm)
Bánh chuối Lục Yên không đơn thuần chỉ là một món ăn, mà nó còn chứa đựng cả giá trị tinh thần ở trong đó. Nó là hiện thân của tinh thần tiết kiệm, là sự gắn bó và hài hòa cùng với thiên nhiên của bà con nơi đây. Vì thế cho nên, bánh chuối luôn được làm rất cầu kỳ, tỉ mỉ và công phu. Đặc biệt được sử dụng rất nhiều vào những dịp quan trọng như lễ tết hoặc là cúng bái của bà con dân tộc Tày. Vào dịp quan trọng thì bánh chuối là một món không thể thiếu được trên bàn thờ tổ tiên.
Khoai tím Lục Yên
Khoai tím Lục Yên (Ảnh sưu tầm)
Ở vùng đất Lục Yên, củ khoai môn (còn gọi là khoai tím, khoai mán, khoai sọ núi) được đánh giá cao trong văn hóa ẩm thực của đồng bào địa phương. Dù được trồng ở nhiều vùng quê, song khoai môn trồng trên đất Lục Yên lại được đánh giá cao về độ bùi, thơm và có hương vị đậm đà. Cùng dòng với khoai sọ nhưng khoai môn Lục Yên có màu tím lạ mắt từ vỏ đến ruột, hoặc ruột trắng có nhiều chấm nhỏ màu tím rất đẹp mắt
Khoai tím Lục Yên là loại cây trồng thế mạnh của vùng núi cao tỉnh Lào Cai. Khoai tím tuy giản đơn, bình dị nhưng khi đã thưởng thức thì sẽ khiến du khách khó quên. Vị ngọt thanh, béo bùi đặc trưng khiến món ăn này nức tiếng gần xa, ai đi qua vùng đất này đều muốn thưởng thức thử.
Đặc sản Lào Cai
Rượu táo mèo Sapa
Nhắc đến táo mèo có lẽ nhiều người nói rằng nó chẳng phải riêng của Sa Pa, nhưng khi nhắc đến rượu táo mèo thì sẽ nghĩ ngay đến rượu táo mèo Sa Pa. Vì rượu táo mèo Sapa mang trong mình một chất khác của ẩm thực Sa Pa, rất đặc biệt và không thể tìm thấy ở loại rượu khác.
Táo mèo là một loại quả nổi tiếng vùng Tây Bắc (Ảnh sưu tầm)
Cây táo mèo còn có tên khác là sơn trà – loại cây mọc hoang dại ở khu vực Hoàng Liên Sơn. Do sống hoang dại, lớn lên cùng mưa gió, bão bùng được xem như món quà mà tạo hóa ban tặng cho vùng đất sương mù này. Cũng có thể vì vậy mà táo mèo Sa Pa khi ăn sẽ có vị hơi ngọt, chát nhưng nếu đã ăn được thì sẽ nghiện ngay. Có lẽ vậy cho nên rượu táo mèo Sa Pa càng uống càng say, càng ngây ngất.
Táo mèo ra hoa vào cuối mùa xuân và bắt đầu trĩu quả vào mùa thu. Lúc này quả sẽ được người dân sử dụng để làm nên những hũ rượu táo mèo ngon tuyệt, càng uống càng say làm mê mẩn khách du lịch đến tham quan nơi đây.
Mận hậu Bắc Hà
Mận Bắc Hà (Ảnh sưu tầm)
Sapa có rất nhiều loại mận ngon như mận Tả Van, mận vàng, mận đỏ, mận Tam Hoa, trong đó mận Hậu là loại mận ngon nhất. Những cây mận này được trồng trên 20 năm tại Ô Quy Hồ, là loài cây gắn bó với đời sống của người dân Sa Pa, trở thành loại quả đặc sản nhiều người muốn thưởng thức.
Mận Sapa không được ngọt, quả to và đẹp như mận Trung Quốc nhưng lại có cái vị chua nhôn nhốt, hơi chát nhưng lại ngọt nơi đầu lưỡi, hạt nhỏ và rất róc hạt, mọng nước.
Rượu ngô Bắc Hà
Vào đến nhớ dốc Trung Đô, ra thì phải nhớ rượu ngô Bắc Hà” là câu nói cửa miệng của những dân bản nơi đây để nhắc những ai đặt chân đến Sapa – Lào Cai thì đừng quên ghé qua bản Phố uống rượu ngô Bắc Hà. Chẳng phải tự nhiên mà câu nói đó lại nhắc đến rượu ngô bản Phố – Bắc Hà. Với sự đặc biệt từ nguyên liệu, cách nấu đến cách thưởng thức làm cho rượu ngô Bắc Hà nổi bật trong thị trường rượu hỗn loạn bây giờ.
Rượu ngô được chế biến thủ công tại Bắc Hà (Ảnh sưu tầm)
Rượu ngô Bắc Hà, hay còn gọi là rượu Bản Phố Bắc Hà: Là 1 loại rượu được nấu từ ngô tự nhiên, kết hợp với men được làm từ hạt hổng mi. Do tất cả các sản chất liệu tạo thành đều từ thiên nhiên. Ngô là giống ngô bà con trồng trên lương, trên đồi. Men khi chế biến từ cây hồng mi cùng 1 số loại dược liệu khác. Chính vì vậy khi uống Rượu ngô Bắc Hà không bị đau đầu, hương thơm êm say.
Rượu thóc Sim San
Rượu Sim San là đặc sản truyền thống của đồng bào Dao Đỏ, được bà con chưng cất ở độ cao khoảng 2.000 m tại thôn Sim San, xã Y Tý, tỉnh Lào Cai. Hương rượu nồng ấm giữa mây núi Y Tý đã trở thành thức quà đặc trưng của vùng biên viễn Tây Bắc.
Củ Hà Sin Cô
Loại củ này có xuất xứ từ Trung Quốc (Ảnh sưu tầm)
Được người dân gọi là Hà Sin Cô hay Hoàng Sin Cô. Với công dụng giải khát, thanh lọc cơ thể, nhuận tràng…, giá lại rẻ như khoai, những củ sâm đất tươi được trồng ở vùng núi cao xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai nhanh chóng tạo cơn sốt cho người tiêu dùng thành thị.
Thoạt nhìn, hoàng sin cô có hình dáng giống như củ khoai lang, tùy loại to, nhỏ, củ có trọng lượng từ vài lạng đến khoảng 1kg.
Nấm hương Y Tý
Nấm hương thường mọc vào tháng 4 và tháng 5, khi những cơn mưa bắt đầu xuất hiện. Sau mỗi đợt mưa, nấm lại mọc nhiều hơn, lúc đó người dân lại đi rừng hái nấm về bán. Đi dọc đường hoặc vào các chợ phiên, bạn sẽ bắt gặp những hàng nấm của bà con bày bán.
Hãy mua một ít về ăn hoặc về làm quà nhé. Ở Y Tý, tầm tháng 4-5 hay có bán nấm hương, thi thoảng cũng có nấm sò, nấm thông, hoặc một số loại nấm khác. Theo kinh nghiệm của bà con nơi đây, sau mỗi đợt mưa nấm lại mọc nhiều, đó cũng là lúc bà con rủ nhau lên rừng hái nấm.
Bia Hà Nhì
Bia của người Hà Nhì làm từ gạo nếp. Công đoạn ủ bia thì quả là cầu kỳ và độc đáo. Để có được hũ bia ngon, mùi thơm đặc trưng thì điều quan trọng nhất đó là phải chọn được loại gạo nếp ruộng phơi đủ nắng, hạt đều và có mùi thơm. Gạo nếp được đãi sạch, ngâm nước 1 tiếng rồi đem đồ thành xôi. Khi xôi chín, người ta rải xôi ra mẹt và để nguội. Để từng hạt xôi ngấm đều men người ta dùng nước đun sôi để nguội vẩy lên mẹt xôi cho từng hạt tơi ra, không dính vào nhau.
Bia Hà Nhì (Ảnh sưu tầm)
Ngoài gạo ra thì men là cũng là yếu tố quan trọng để làm bia ngon. Men để ủ thành bia là được làm thủ công từ hạt cây rừng, nghiền nhỏ trộn với bột gạo nếp và ủ trong rơm. Sau khi xôi nguội, người ta rắc men trộn đều và cho xôi vào hũ sành, bịt kín lại. Sau 3 ngày, phần cơm xôi đó sẽ lên men, tiết ra nước, phần cái nổi lên trên và phần dưới là nước cốt. Nước cốt màu trắng ngà có mùi thơm và vị ngọt dịu. Lúc này, sẽ chế thêm nước sôi để nguội vào hũ và tiếp tục ủ, đủ 15 ngày sẽ cho ra sản phẩm bia. Cứ 10 kg gạo nếp sẽ cho khoảng 7 lít bia. Càng ủ lâu, nước bia chuyển từ trắng sẽ sang vàng và uống càng ngon.
Lạp xưởng lợn đen
Món lạp xưởng do người Nùng Dín làm ra nổi tiếng. Có giá trị thương phẩm cao bởi cách chế biến cầu kỳ và cách cất giữ bảo đảm. Đó là món ăn ngon đặc biệt nó được chế biến bằng thịt lợn Mường Khương nổi tiếng. Chế biến sử dụng bã mía làm củi để sấy nên lạp xưởng ở đây thơm đậm đà. Chúng vàng óng như mật ong rừng. Khiến những thực khách một lần được ăn là nhớ mãi.
Dứa Bản Lầu (Mường Khương)
Dứa Bản Lầu là loại dứa chỉ có ở Mường Khương. Đến đây du khách sẽ cảm thấy như lạc vào cánh đồng dứa bát ngát vô tận và khó có thể cưỡng lại cái mùi thơm lừng. Dứa thường có 2 mùa là xuân hè và thu đông. Quả dứa to, mắt căng có vị ngọt sắc, thơm ngon.
Cánh đồng dứa Bản Lầu, Mường Khương (Ảnh sưu tầm)
Tương ớt Mường Khương
Đặc sản này do đồng bào dân tộc vùng cao tại xã Mường Khương tạo nên, từ chính những quả ớt tươi ngon có hương vị đặc trưng riêng so với ớt của các vùng khác. Ban đầu chỉ là công thức làm tương ớt nhỏ lẻ của những người dân trong vùng với mục đích phục vụ ăn uống trong gia đình.
Tương ớt Mường Khương được làm từ loại ớt sừng trâu (Ảnh sưu tầm)
Vì sau khi du lịch phát triển, tương ớt Mường Khương đã trở thành một đặc sản được nhiều du khách trong và ngoài tỉnh biết tới bởi cái hương vị cay cay, thơm thơm ăn một lần là nghiện khiến người ta phải nhớ tới mãi.
Rượu Mản Thẩn
Nếu Bắc Hà nổi tiếng với rượu Bản Phố thì Si Ma Cai có rượu Mản Thẩn, Sín Chéng làm say lòng thực khách. Rượu ngô Mảm Thẩn – Si Ma Cai là tinh tuý của đất trời ban cho đồng bào nơi đây, được chiết xuất từ hạt ngô trồng trên các triền núi cao, được đồng bào H”Mong lựa chọn những hạt khô, không mối mọt đem “bung” , sau đó trộn với thứ men lá gia truyền có cái tên “Hồng mi”, sau 2-3 ngày lên mốc, sẽ được đem ủ trong các thùng gỗ ‘samu” bịt kín và khoảng 10 ngày sau sẽ được đem trưng cất bằng phương pháp truyền thống “chõ gỗ” được đặt trên chảo gang lớn và dưới chảo nhỏ chứa nước lạnh, hơi nước bốc lên qua lớp ngô ủ, gặp nước lạnh sẽ ngưng tụ, cho ta những giọt rượu “sóng sánh, thơm nồng và ngất ngây”, vi thế nên tiếng mông gọi rượu ngô là “Chaox paos cưz” tức là “mỡ của ngô”…
Vịt Sín Chéng
Vịt Bầu Sín Chéng là giống vịt nuôi bản địa tại xã Si Ma Cai, được nuôi tập trung chủ yếu ở thôn Bản Giáng, Bản Kha của xã Sín Chéng. Đây là khu vực nằm sâu trong nội địa, cách trung tâm huyện khoảng 27km, giao thông đi lại khó khăn, đồng bào ở đây chỉ đem vịt đi bán mà không mua giống từ vùng thấp về nên vịt ở đây có độ thuần cao.
Vịt Sín Chéng (Ảnh sưu tầm)
Ưu điểm của vịt Bầu Sín Chéng là có trọng lượng lớn, thịt vịt ngọt, quả trứng to, tỷ lệ lòng đỏ cao nên rất được thị trường ưa chuộng.
Mận hậu Mù Cang Chải
Ở Mù Cang Chải mận hậu được trồng tại xã Mù Cang Chải, với diện tích trồng tuy không nhiều nhưng mỗi gia đình người Mông tại đây vẫn có khoảng chục gốc, mận hậu khác với mận tam hoa và các loại mận khác là chín muộn thường vào tháng 6 dương lịch, quả chín cũng có mầu xanh hoặc hơi ngả vàng.
Mận hậu (Ảnh sưu tầm)
Du khách lên Mù Cang Chải vào dịp này, không chỉ được ngắm và chiêm ngưỡng không gian kỳ vĩ, bao la, điệp trùng của ruộng bậc thang, những bản làng người Mông yên bình nằm nép mình chênh vênh bên vách núi đá, mà còn được đến thăm những vườn mận hậu trĩu quả của bà con người Mông tại xã Kim Nọi.
Thú vị hơn du khách còn có thể chụp những bức ảnh kỷ niệm ngay tại vườn bên những cây mận với chùm mận xanh ngắt, được trải nghiệm khi trực tiếp hái mận và thưởng thức những quả mận chín ngọt còn tươi nguyên cành, cảm nhận sự tinh khiết, trong lành và ngon ngọt tự nhiên.
Mật ong nhãn Văn Chấn
Cuối tháng Tư, mật ong hoa nhãn được khai thác tại các huyện vùng cao như Sông Mã (Sơn La) và Văn Chấn nơi các cây trồng không bón phân hóa học và phun thuốc trừ sâu bệnh. Đặc biệt mật ong nơi đây có hương thơm đặc biệt và không bị lên men.
Bưởi Đại Minh
Yên Bình có giống bưởi Đại Minh ngon nổi tiếng. Bưởi Đại Minh được các nhà khoa học đánh giá là 1 trong 7 giống bưởi quí, thơm ngon nổi tiếng, sánh với các giống bưởi quí như: Năm Roi, Phúc Trạch, bưởi Diễn, Thanh Trà…
Quả bưởi đặc sản ở xã Đại Minh, Yên Bình (Ảnh sưu tầm)
Bưởi Đại Minh ngon có tiếng, từ lâu đã trở thành đặc sản của vùng quê này và là niềm tự hào của người dân Lào Cai. Lễ hội bưởi Đại Minh và khám phá danh thắng quốc gia hồ Thác Bà được diễn ra hàng năm.
Táo mèo Mù Cang Chải
– Vị quả: Khi ăn táo mèo Mù Cang Chải sẽ thấy vị hơi chát, ngọt thơn và chua chứ không quá ngọt khát hoặc chát xít như các loại táo mèo khác. Táo có tính chất khá giòn, không mềm xốp. Ăn vào co cảm giác hơi xít răng. Đây cũng chính là công dụng làm trắng răng dễ nhận thấy của táo mèo khi dùng thường xuyên.
Táo mèo Mù Cang Chải mua về ngâm rượu rất thơm (Ảnh sưu tầm)
– Hình dáng: Táo mèo Mù Cang Chải có hình tròn, hơi dẹt, khi chính hơi trắng, hồng, mùi thơm. Để chọn quả táo ngon, không nên tham to mà chỉ chọn quả vừa phải, bị sâu cũng chính là đặc điểm nhận dạng táo mèo ngon.
– Cảm nhận khi cầm vào táo mèo Mù Cang Chải thường khá chắc tay, khi táo héo, quả vẫn săn lại chứ không bị thối nhũn hay mềm, nát như các loại táo khác.
Quế Văn Yên
Do có địa hình đồi núi cao, nằm trong vùng khí hậu phù hợp với sự sinh trưởng của cây Quế, nên vùng Quế Văn Yên được hình thành từ lâu đời và gắn liền với cuộc sống của người Dao.
Quế Văn Yên nổi tiếng rất thơm (Ảnh sưu tầm)
Người Dao ở Văn Yên cần cù, chịu khó, gắn bó với cây Quế, nghề Quế, nên những kinh nghiệm trồng Quế đặc trưng như: chọn giống, trồng cây, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản cũng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Dao.
Thịt trâu gác bếp
Thịt trâu gác bếp (hay còn gọi là thịt trâu khô,thịt trâu hun khói,trâu sấy) là món ăn truyền thống mang phong cách ẩm thực của dân tộc Thái. Với hương vị đậm đà và mùi thơm hấp dẫn, thịt trâu Tây Bắc không chỉ là món ngon chiêu đãi gia đình mà còn là món quà độc đáo, ý nghĩa dành tặng người thân, bạn bè trong dịp tết đến, xuân về.
Thịt trâu gác là một đặc sản núi rừng Tây Bắc (Ảnh sưu tầm)
Thịt trâu được tẩm ướp các loại gia vị (không thể thiếu mắc khén nhé) theo công thức riêng tùy tay người làm rồi sấy khô. Nếu được sấy bằng khói trên bếp củi thì thịt trâu khi ăn sẽ có mùi hơi khét khét của khói, nhưng mà ngon lắm. Món này muốn mua nhiều khi cũng không có sẵn mà phải đặt trước.
Lạp xưởng
Có thể nói, làm lạp xưởng (lạp sườn) là bí quyết riêng không phải nơi nào cũng biết. Chỉ với công thức chung gồm thịt ba chỉ thái nhỏ, bột canh, hạt tiêu, mật ong, đường, rượu trắng… nhưng để tạo nên được món lạp xưởng ngon nức tiếng thì phải có bí quyết riêng.
Lạp xưởng thường được sản xuất và chế biến tại các tỉnh miền núi phía Bắc (Ảnh sưu tầm)
Làm lạp xưởng (lạp sườn) phải cẩn thận chú ý đến thời gian tẩm ướp, chú ý đến khâu củi lửa, không được đun to, không được để tắt bếp trong giai đoạn thịt lên men… nếu không lạp xưởng (lạp sườn) dễ bị chua, nhanh bị ôi, thối sau này.Nhiên liệu để sấy thịt và lạp xưởng (lạp sườn) cũng không đơn giản, phải là than hoa, bã mía, vỏ trấu, lá quế tươi, nếu là củi thì phải là thân cây quế, là thân tươi càng tốt.
Theo giải thích của người làm nghề lạp xưởng (lạp sườn) thì nhiều người tham sẽ sấy bằng than tổ ong, rất độc hại; củi thì có rất nhiều loại gỗ chứa các chất độc, khói độc áp vào thịt sẽ có hại, nhất là gây đau bụng. Vì thế nhất thiết phải than hoa, hoặc củi quế. Nếu có dịp đến với vùng cao Lào Cai này thì các bạn nhớ đừng quên thưởng thức món lạp xưởng này để cảm nhận sự khác biệt so với lạp xưởng nơi khác nhé!
Rượu thóc La Pán Tẩn
Rượu La Pán Tẩn (Ảnh sưu tầm)
Theo các già làng người Mông xã Púng Luông kể lại, thì từ lâu lắm rồi đã thấy người Mông làm thứ rượu thóc quý này. Rượu thì nhà ai cũng nhiều, nhưng khách phải quý lắm thì người Mông mới mời uống. Mà đã uống thì phải uống bằng bát, uống cho bằng hết rượu trong nhà thì thôi. Chủ nhà “chào cỗ” với khách bằng hai bát rượu, khách cũng phải đáp lễ bằng hai bát. Uống xong mặt cười phơ lớ, rồi bắt tay nhau, rồi lại uống tiếp. Uống cho say đến độ không biết gì nữa, rồi cả chủ lẫn khách ôm nhau nằm ngủ dưới sàn đất trải rơm. Khách quý của người Mông thì phải như thế.
Được cái rượu người Mông uống say không bao giờ bị đau đầu như thứ rượu Vodka hay cuốc lủi pha thuốc sâu ở dưới xuôi. Đêm uống say sáng ra người tỉnh táo như vừa trải qua một giấc ngủ. Rượu thóc La Pán Tẩn ngon nổi tiếng đến nỗi hàng năm Tết đến, nhiều người ở dưới Hà Nội kì công phóng cả ô tô lên mua vài chục lít về vừa uống vừa đi tặng. Giá một lít chỉ vào khoảng 30 nghìn đồng, không nhiều, nhưng cũng là một nguồn tăng thu nhập cho người La Pán Tẩn.
Chè Shan Tuyết Suối Giàng
Chè Shan Tuyết Suối Giàng (Ảnh sưu tầm)
Nếu bạn từng lên thăm khu Suối Giàng, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai, hẳn sẽ ngỡ ngàng trước bạt ngàn những cây chè Shan Tuyết cổ thụ, thân phủ trắng mốc, nhiều cành uốn lượn buộc người hái phải trèo lên mới thu hoạch được. Chè Shan Tuyết cổ thụ có thân lớn tới vài người ôm, màu trắng mốc, tán khoảng 20m², lá xanh đậm — tạo nên cảnh quan đặc trưng hiếm nơi nào có của vùng Suối Giàng.
Thừa hưởng khí hậu núi cao quanh năm mát mẻ, nhiều ngày có mây mù nên chè ở đây búp to, phủ một lớp lông tơ mịn như nhung, trắng như tuyết. Chè Shan Tuyết là loại cây mọc tự nhiên trên vùng núi cao, được nuôi dưỡng bằng sinh khí của đất, trời nên búp và lá chè rất to, có màu xanh đậm, trên mặt lá phủ một lớp lông tơ mỏng trắng như tuyết. Vì vậy mà chè có tên Shan Tuyết (chè được ngậm tuyết trên núi cao).
Chè Shan Tuyết Suối Giàng xưa nay được xếp hàng “đầu bảng” các loại chè. Mọi người vẫn bảo đây là loại chè “năm cực”. “Cực khổ” – khi trồng và thu hái; “cực sạch” – vì những điều kiện khí hậu, môi trường và cả công chăm giữ của người trồng; “cực hiếm” – vì sản lượng ít (đến nay, dù đã tăng thêm diện tích trồng nhưng mỗi năm nhiều lắm cũng chỉ mới thu hái được chừng 200 tấn chè búp); “cực ngon” – với đủ các phẩm chất đỉnh cao mà mỗi chén trà phải có như hương thơm, vị đậm, nước xanh. Và vì cả bốn “cực” trên nên đương nhiên, có thêm “cực đắt”.
Cam Văn Chấn
Cam Văn Chấn (Ảnh: hachi8)
Vào đầu những năm 80, xã Văn Chấn đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, loại bỏ dần diện tích cây trồng kém hiệu quả chuyển sang trồng cây ăn quả. Đến vùng đất Văn Chấn, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng những vườn cam bạt ngàn, phủ khắp các sườn đồi. Cam Văn Chấn mọng nước, ít hạt và có mùi thơm đặc trưng, là món quà tốt cho sức khỏe người thân.
Một số lịch trình du lịch Lào Cai
Dưới đây là tổng hợp một số lịch trình du lịch tới các địa điểm nổi tiếng của Lào Cai như Sa Pa, Bắc Hà, Y Tý. Lịch trình cũng kết hợp du lịch tới một số địa điểm khác nữa mà có thể lập thành một cung đường như Mộc Châu, Mù Cang Chải, Sìn Hồ, Tà Xùa, Sơn La. Các bạn có thể tham khảo và điều chỉnh lại cho phù hợp nhất với lộ trình nhé.
Sa Pa 3 ngày 4 đêm
Ngày 1 : Hà Nội – Sa Pa – Hà Nội
Các bạn đi xe tối hôm trước sau một đêm ngủ trên xe thì sáng sớm các bạn có mặt ở Sa Pa, gửi đồ tại khách sạn rồi hành trang gọn nhẹ đi bộ xuống bản Cát Cát, dọc đường xuống có rất nhiều quán cafe có view đẹp.
Khi từ Cát Cát lên xong thì các bạn leo núi Hàm Rồng, trên núi có các vườn hoa rất đẹp, nhớ mua vé từ dưới chân núi. Trưa xuống nghỉ ngơi, ăn uống rồi về nhận phòng. Đến chiều các bạn có thể đi Fansipang bằng cáp treo và ngắm những thiên đường mây bồng bềnh.
Ngày 2 : Sa Pa – Ô Quý Hồ – Sa Pa
Thuê xe máy đi thăm Thác Bạc, Thác Tình Yêu. Đi xe máy lên đỉnh đèo Ô Quý Hồ, một trong Tứ Đại Đỉnh Đèo của dân phượt miền Bắc nối giữa 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu. Buổi trưa các bạn ăn trưa trên đường. Chiều về có thể đi thăm thung lũng Mường Hoa, Cầu Mây, bãi đá cổ Sa Pa, bản Tả Van, bản Giàng Tả Chải. Tối đi dạo quanh thị trấn Sapa và đừng quên thưởng thức ẩm thức nhất là các món nướng.
Ngày 3 : Sa Pa – Lào Cai – Hà Nội
Các bạn có thể thuê xe máy đi thăm bản Tả Phìn, đây là tuyến du lịch cộng đồng được yêu thích. Tại đây các bạn có thể thăm tu viện cổ Tả Phìn. Đến chiều về trả xe máy, tắm lá thuốc người Dao. Đến chiều tối các bạn lên xe giường nằm trở về Hà Nội.
Hà Nội – Bắc Hà – Sa Pa – Y Tý
Lịch trình này phù hợp vào khoảng mùa lúa chín tầm tháng 9 là mùa lúa ở Y Tý, Sa Pa. Với lịch trình này các bạn cần mang theo xe máy từ Hà Nội, chạy 1 chiều và nếu khỏe có thể chạy về hoặc gửi tàu về 1 chiều.
Ngày 1: Hà Nội – Bắc Hà
Bắc Hà cách Hà Nội vẻn vẹn 300km, các bạn khởi hành sớm từ Hà Nội theo QL70 đến Bắc Ngầm thì để ý rẽ vào đường 153 đi Bắc Hà. Tốt nhất ngày đầu nên đi vào thứ 7 để dạo chơi được chợ phiên Bắc Hà vào sáng chủ nhật.
Ngày 2: Bắc Hà – Sa Pa
Các bạn dậy sớm đi chợ phiên Bắc Hà, có thể tạt vào thăm quan dinh Hoàng A Tưởng và đến một số khu vực có hoa mận, hoa đào, tam giác mạch… cái này tùy mùa.
Khoảng tầm trưa các bạn khởi hành từ Bắc Hà đi tiếp về TP Lào Cai cũ rồi lên Sa Pa. Tùy thuộc vào hành trình, các bạn có thể ở Sa Pa 1 hoặc 2 ngày. Đến tối các bạn ngủ Sa Pa và thưởng thức các món ẩm thực vùng này nhé.
Ngày 3: Sa Pa – Mường Hum – Y Tý
Sáng dậy uống cafe ở Sa Pa rồi khởi hành từ Sa Pa đi theo hướng Ô Quy Hồ vào Mường Hum rồi từ đây vào Y Tý. Nếu ngày 3 này vào chủ nhật, các bạn có cơ hội dự chợ phiên Mường Hum. Tối ngủ Y Tý.
Ngày 4: Y Tý – A Lù – Bát Xát – Lào Cai
Ngày cuối cùng này chạy theo một trong những đoạn đường có ruộng bậc thang đẹp nhất ở Y Tý, đi ngược về Bát Xát, trên đường sẽ đi qua Lũng Pô và mốc 92, nơi sông Hồng đổ vào Việt Nam.
Về TP Lào Cai cũ mua vé tàu và gửi xe máy về Hà Nội.
Hà Nội – Bắc Hà – Sa Pa – Sìn Hồ – Mộc Châu – Mai Châu
Đây là lịch trình đi qua 2 địa điểm du lịch nổi tiếng của Lào Cai, vòng sang đất Lai Châu rồi tiếp tục ghé qua thung lũng Mộc Châu, trên đường về Hà Nội nghỉ ngơi tại Mai Châu
Ngày 1: Hà Nội – Bắc Hà
Bắc Hà cách Hà Nội khoảng 300km, khởi hành từ Hà Nội theo QL 70 đến Bắc Ngầm thì để ý rẽ vào đường 153 đi Bắc Hà. Nên khởi hành từ Hà Nội khoảng sáng sớm để đến Bắc Hà không bị muộn quá. Ngày đầu nên đi vào thứ 7 để dạo chơi được chợ phiên Bắc Hà vào sáng chủ nhật.
Ngày 2: Bắc Hà – Lào Cai – Sa Pa
Sáng dậy sớm đi chợ Bắc Hà, chơi bời quanh thị trấn rồi xuất phát đi Sa Pa. Từ Bắc Hà về Sa Pa chỉ mất khoảng 3 tiếng đồng hồ, các bạn xuất phát buổi sáng sau khi đi chợ thì khoảng trưa bạn có mặt ở Sa Pa, dành buổi chiều này để khám phá và trải nghiệm Sa Pa nhé.
Ngày 3: Sa Pa – Sìn Hồ
Các bạn dậy sớm đi hít hà một vòng rồi làm một tăng cafe ở quán cafe đẹp nhất ở Sa Pa rồi xuất phát đi Sìn Hồ. Nếu từ Sa Pa đi Sìn Hồ vào khoảngchừng 100km nên các bạn đi từ đầu giờ chiều cũng được.
Đến tối các bạn ngủ Sìn Hồ, ở đây có bài tắm là thuốc của người dân ở đấy cũng thích lắm, hãy thử nhé.
Ngày 4: Sìn Hồ – Pha Đin – Sơn La
Các bạn từ Sìn Hồ các bạn đi theo hướng Mường Lay rồi rẽ theo QL6 qua đèo Pha Đin. Đây cũng là một trong tứ đại đỉnh đèo của miền Bắc rồi dọc theo QL 6 về TP Sơn La cũ.
Ngày 5: Sơn La – Mộc Châu – Mai Châu
Từ TP Sơn La cũ đi thẳng QL6 về Mộc Châu, các bạn có thể sắp xếp dành chút thời gian khám phá Mộc Châu rồi khoảng 15h đi về Mai Châu, Tuy khoảng cách khoảng 70km thôi nhưng có những ngày thời tiết sương mù thì đây đúng là một thử thách khó khăn đó.
Ngày 6: Mai Châu – Hà Nội
Ngày này các bạn có thể tranh thủ dạo chơi các bản khám phá Mai Châu rồi thong thả đầu giờ chiều đi về Hà Nội. Trên đường về Hà Nội có thể dừng nghỉ ở đèo Thung Khe. Lưu ý: thời gian từ Mai Châu về Hà Nội khoảng hơn 4 tiếng và quãng đường đèo thường xuyên có sương mù dày đặc.
Hà Nội – Bắc Hà – Sa Pa – Mù Cang Chải – Hà Nội
Ngày 1: Hà Nội – Bắc Hà
Các bạn dậy sớm sau đó khởi hành đi Bắc Hà. Nơi đây cách Hà Nội khoảng tầm 300km đi theo QL 70 đến Bắc Ngầm thì để ý rẽ vào đường 153 đi Bắc Hà. Nên khởi hành từ Hà Nội khoảng sáng sớm để đến Bắc Hà không bị muộn quá. Tốt nhất các bạn nên đi vào thứ 7 để dạo chơi được chợ phiên Bắc Hà vào sáng chủ nhật.
Ngày 2: Bắc Hà – Sa Pa
Các bạn dậy sớm đi chợ phiên Bắc Hà, có thể tạt vào thăm quan dinh Hoàng A Tưởng và đến một số khu vực có hoa mận, hoa đào, tam giác mạch… cái này tùy mùa.
Khoảng tầm trưa các bạn khởi hành từ Bắc Hà đi tiếp về TP Lào Cai cũ rồi lên Sa Pa. Tùy thuộc vào hành trình, các bạn có thể ở Sa Pa 1 hoặc 2 ngày. Đến tối các bạn ngủ Sa Pa và thưởng thức các món ẩm thực vùng này nhé.
Ngày 3: Sa Pa – Ô Quy Hồ – Mù Cang Chải
Sáng các bạn dậy sớm lượn một vòng rồi uống cafe ở Sa Pa xong chạy theo đường đèo Ô Quy Hồ sang hướng Lai Châu. Khi các bạn đến ngã 3 Bình Lư thì rẽ về Than Uyên – Tân Uyên về Mù Cang Chải. Buổi tối ngủ Mù Cang Chải, nếu đi vào dịp lúa chín tầm tháng 9 thì nên đặt phòng trước khi đi nhé.
Ngày 4: Mù Cang Chải – Khau Phạ – Tú Lệ – Hà Nội
Các bạn dậy sớm khởi hành khám phá Mù Cang Chải như đồi mâm xôi rồi đi theo QL32 về Hà Nội, trên đường về sẽ khá nhiều cảnh đẹp trên đường như đèo Khau Phạ, Tú Lệ… Nếu thích các bạn có thể kéo dài thêm 1 ngày ở Mù Cang Chải để thoải mái ngắm lúa nếu đi vào mùa vàng.
Xem thêm: Hướng dẫn leo Bạch Mộc Lương Tử
Xem thêm: Kinh nghiệm du lịch phượt Y Tý
Xem thêm: Kinh nghiệm du lịch phượt Sapa
Xem thêm: Kinh nghiệm du lịch Bắc Hà, Lào Cai






























































































































































Discussion about this post